A. GIAI ĐOẠN I:
TUYỂN
TẬP NHỮNG CÂU CHUYỆN CHO BÉ
MẪU GIÁO BÉ
I . THƠ
Mười quả
trứng tròn Mẹ gà ấp ủ ......
1. Đàn gà con
Mười quả trứng tròn
Mẹ gà ấp ủ
Mười chú gà con
Hôm nay ra đủ
Lòng trắng, lòng đỏ,
Thành mỏ, thành chân
Cái mỏ tí hon
Cái chân bé xíu
Lông vàng mát dịu
Mắt đen sáng ngời
Ơi chú gà ơi!
Ta yêu chú lắm
Trong bàn tay ấm
Chú đứng chú kêu
Mẹ gà "tục tục"
Chú ngoái nhìn theo
Ta thả chú ra
Chạy ăn cùng mẹ
Chạy biến cả chân
Chạy sao nhanh thế!
Là gà của bé
Gà nhé đừng quên
Ăn khỏe, lớn khỏe
Đẻ rõ nhiều lên!
Mẹ gà ấp ủ
Mười chú gà con
Hôm nay ra đủ
Lòng trắng, lòng đỏ,
Thành mỏ, thành chân
Cái mỏ tí hon
Cái chân bé xíu
Lông vàng mát dịu
Mắt đen sáng ngời
Ơi chú gà ơi!
Ta yêu chú lắm
Trong bàn tay ấm
Chú đứng chú kêu
Mẹ gà "tục tục"
Chú ngoái nhìn theo
Ta thả chú ra
Chạy ăn cùng mẹ
Chạy biến cả chân
Chạy sao nhanh thế!
Là gà của bé
Gà nhé đừng quên
Ăn khỏe, lớn khỏe
Đẻ rõ nhiều lên!
2. Rong và cá
Có cô rong xanh
Đẹp như như tơ nhuộm
Giữa hồ nước trong
Nhẹ nhàng uốn lựơn
Một đàn cá nhỏ
Đuôi đỏ lụa hồng
Quanh cô rong đẹp
Múa làm văn công.
(Phạm
Hổ)
Ngày
xửa, ngày xưa có hai ông bà già và một cô cháu gái sống trong ngôi nhà bằng gỗ
bên cạnh manh vườn xinh xắn. Trong nhà còn có một con Chó, một con Mèo và một chú
Chuột nhắt.Vào mùa thu, ông già mang về một cây củ cải nhỏ và trồng trong vườn.
Ngày ngày, ông ra sức chăm chút cho cây. Sáng nào ông cũng cho cây cải uống một
gáo nước. Chiều nào ông cũng bắt sâu, nhổ cỏ cho cây. Cây cải cũng không phụ
lòng tốt của ông, nó lớn nhanh như thổi. Chẳng bao lâu nó trở thànhmột cây cải
khổng lồ, to chưa từng thấy.
Một
buổi sáng, ông già ra vườn định nhổ củ cải về cho bà già và cháu gái. Ông nhổ
mãi, nhổ mãi mà cây cải không hề nhúc nhích. Ông gọi bà già: «Bà già ơi! Mau lại
đây! Mau giúp tôi nhổ củ cải!»Bà già liền chạy lại, bà túm áo ông, ông nắm cây
cải nhổ mãi, nhổ mãi vẫn không được. Bà già gọi cháu gái: «Cháu gái ơi! Mau lại
đây! Mau giúp bà nhổ củ cải!» Cháu gái liền chạy lại kéo áo bà, bà túm áo ông,
ông nắm cây cải nhổ mãi, nhổ mãi chẳng ăn thua gì. Cháu gái gọi Chó con: «Chó
con ơi! Mau lại đây! Mau giúp tôi nhổ củ cải!». Chó con chạy lại ngậm lấy bím
tóc của cháu gái. Cháu kéo áo bà ba, bà túm áo ông, ông nắm cây cải. Kéo mãi nhổ
mãi cây cải vẫn nằm ì ra. Mèo con gọi Chuột nhắt: «Chuột nhắt ơi! Mau lại
đây!Mau giúp tôi nhổ củ cải!» Chuột nhắt chạy lại, bám đuôi Mèo, Mèo cắn đuôi
Chó, Chó ngậm biếm tóc cháu gái, cháu gái kéo áo bà, bà túm áo ông, ông nắm cây
cải. Một, hai, ba... Cây cải gan lì đã bị kéo lên khỏi mặt đất.
Tất
cả sung sướng, nhảy múa quanh vây cải:
«Nhổ
cải lên! Nhổ cải lên!
Ái
chà chà! Lên được rồi!»
2. Truyện Chú Vịt xám |
- Các con phải đi theo mẹ, theo đàn, không được tách ra đi một mình mà con cáo ăn thịt đấy !
Đàn Vịt con vâng dạ rối rít.
Vừa ra khỏi cổng làng, chú Vịt Xám đã
quên ngay lời mẹ dặn. Chú lẻn đi chơi một mình, lang thang hết nơi này đến
nơi khác. Cuối cùng chú đến một cái ao có rất nhiều tôm cá. Đứng trên bờ nhìn
xuống, chú thấy từng đàn cá, tôm bơi lội tung tăng dưới nước, thỉnh thoảng
một con tôm cong mình nhảy tanh tách.
Thích quá, chú nhảy xuống mò lấy, mò để. Lúc ăn đã gần no, chú mới nhìn lên chẳng thấy Vịt mẹ đâu cả. Hoảng sơ, chú nhảy lên bờ gọi mẹ ầm ĩ : “Vít... vít... vít”. Gần đấy có một con cáo đang ngủ, nghe tiếng Vịt kêu, Cáo liền nhỏm dậy. Nó lẩm bẩm
- Chà thịt vịt con ăn ngon lắm đấy ! Hôm
nay mình sẽ được một bữa thịt vịt thật là ngon.
Nói rồi Cáo đi nhanh ra phía bờ ao. Khi
Cáo vừa ra đến nơi thì cũng là lúc Vịt mẹ tìm thấy Vịt Xám. Trông thấy Cáo,
Vịt mẹ vội dẫn Vịt Xám nhảy tùm xuống ao. Thế là Vịt Xám thoát chết.
Từ đấy Vịt Xám không bao giờ dám làm sai
lời mẹ dặn.
|
3. Chú thỏ tinh khôn
Có một lần Thỏ đến bên bờ sông bứt ngọn cỏ non nhai ngốn ngấu. Cá Sấu ở gần đó, nằm im giả như không nhìn thấy. Thỏ yên trí ăn rau. Cá Sấu liền giả bộ hiền lành từ từ bò đến bên Thỏ, rồi đột nhiên đớp gọn Thỏ vào mồm.
Cá Sấu kêu lên : “Hu ! Hu” ở trong họng cốt làm cho Thỏ sợ. Thỏ đã nằm gọn trong hàm cá Sấu. Thỏ sợ quá nhưng vẫn bình tĩnh tìm kế thoát thân.
Thỏ nói : - Bác Cá Sấu ơi, bác kêu “hu ! hu” tôi chẳng sợ đâu. Bác mà kêu “Ha ! Ha !” thì tôi sẽ sợ chết khiếp đi mất.
Nghe
Thỏ nói thế, Cá Sấu liền há to mồm kêu lên “Ha ! Ha !” Thỏ nhảy phốc khỏi miệng
Cá Sấu rồi quay lại cười nhạo và chạy biến vào rừng.
III. ĐỒNG DAO
1. Dung dăng dung dẻ
Dung dăng dung dẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến cổng nhà trời
Lạy cậu lạy mợ
Cho cháu về quê
Cho dê đi học
Cho cóc ở nhà
Cho gà bới bếp
Xì xà xì xụp
Ngồi thụp xuống đây
2. Trời mưa quả dưa
vẹo vọ
Trời mưa quả dưa vẹo vọ
Con ốc nằm co
Con tôm đánh đáo
Con cò kiếm ăn
Con ốc nằm co
Con tôm đánh đáo
Con cò kiếm ăn
Con vỏi
con voi
3. Kéo cưa lừa xẻ
Kéo cưa
lừa xẻ
Ông thợ nào khoẻ
Thì ăn cơm vua
Ông thợ nào thua
Về bú tí mẹ.
Kéo cưa lừa kít
Làm ít ăn nhiều
Nằm đâu ngủ đấy
Nó lấy mất cưa
Lấy gì mà kéo
Ông thợ nào khoẻ
Thì ăn cơm vua
Ông thợ nào thua
Về bú tí mẹ.
Kéo cưa lừa kít
Làm ít ăn nhiều
Nằm đâu ngủ đấy
Nó lấy mất cưa
Lấy gì mà kéo
3. Nu na nu nổng
Nu na nu nống
Cái bống nằm trong
Con ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật
Phật ngồi phật khóc
Con cóc nhảy xa
Con gà ú ụ
Nhà mụ thổi xôi
Nhà tôi nấu chè
Tay xoè chân rụt.
Nu na nu nống
Đánh trống phất cờ
Mở cuộc thi đua
Thi chân đẹp đẽ
Chân ai sạch sẽ
Gót đỏ hồng hào
Không bẩn tí nào
Được vào đánh trống.
Cái bống nằm trong
Con ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật
Phật ngồi phật khóc
Con cóc nhảy xa
Con gà ú ụ
Nhà mụ thổi xôi
Nhà tôi nấu chè
Tay xoè chân rụt.
Nu na nu nống
Đánh trống phất cờ
Mở cuộc thi đua
Thi chân đẹp đẽ
Chân ai sạch sẽ
Gót đỏ hồng hào
Không bẩn tí nào
Được vào đánh trống.
4. Chi chi chành chành
Chi chi chành
chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa đứt cương
Ba vương ngũ đế
Bắt dế đi tìm
Ù à ù ập.
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa đứt cương
Ba vương ngũ đế
Bắt dế đi tìm
Ù à ù ập.
B . GIAI ĐOẠN II
I . THƠ
1. Kể Cho Bé Nghe
Hay
nói ầm ĩ
Là con vịt bầu
Hay hỏi đâu đâu
Là con chó vện
Hay chăng dây điện
Là con nhện con
Ăn nó quay tròn
Là cối xay lúa
Mồm thở ra gió
Là cái quạt hòm
Không thèm cỏ
non
Là con trâu sắt
Rồng phun nước bạc
Là chiếc máy bơm
Dùng miệng nấu
cơm
Là cua, là
cáy...
(Tác giả: Trần
Đăng Khoa)
2. BÀI THƠ MÙA XUÂN
Dung dăng dung dẻ
Dẫn trẻ đi chơi.
Mùa xuân đến rồi
Ánh xuân tươi sáng.
Đám mây bông trắng
Nổi giữa trời
xanh.
Gió đưa bồng bềnh
Cao vời lồng lộng.
Vườn thênh thang
rộng
Cỏ non xanh rờn.
Hoa đào tươi thắm
Vườn xuân đầm ấm
Ríu rít chim ca.
(Tú Mỡ)
2 .Dán hoa tặng mẹ
Em dán được cái
hoa
Cô cho mang về
nhà
Nói rằng con tặng
mẹ
Quà ngày 8 tháng
3
Xoa đầu con mẹ bảo
Con dán đẹp thế
à?
Mẹ cảm ơn cô
giáo
Dạy con mẹ tặng
hoa
(Tác giả : Khải
Minh)
II. TRUYỆN
1. Bác gấu đen và hai chú thỏ
Trời mưa to như trút nước. Gió thổi ào ào... bẻ gẫy cả cành cây. Gấu Đen đi chơi về bị ướt lướt thướt, nước mưa chảy ròng ròng xuống mặt Gấu. Gấu chạy mãi, chạy mãi trong rừng để tìm chỗ trú nhờ. Mai quá nhà của Thỏ Nâu đây rồi ! - Cốc. cốc. cốc. Thỏ Nâu đang ngủ liền tỉnh dậy, gắt gỏng hỏi. - Ai đấy ? Bác Gấu Đen đây ! Mưa to quá, cho bác trú nhờ một đêm. Thỏ Nâu không mở cửa, nó cào nhàu : - Không trú nhờ được đâu. Bác to quá, bác làm đổ nhà của cháu mất ! Gấu đen van nài : - Bác không làm đổ nhà đâu. Bác vào rất nhẹ nhàng thôi ! - Nhẹ cũng đổ, không nhẹ cũng đổ : Bác đi đi !Thỏ Nâu vẫn nằm trong nhà nói vọng ra, nó nhất định không ra mở cửa. Gấu Đen buồn rầu. Nước mưa chảy ròng ròng xuống cổ Gấu Đen. Gấu Đen đi mãi, đi mãi, vừa mệt vừa rét. Bỗng nhiên Gấu Đen nhìn thấy có một ngôi nhà. Trong nhà thắp đèn sáng trưng. Có tiếng Thỏ Trắng khe khẽ hát “Là lá la...”. Gấu Đen lại gần và rụt rè gõ cửa : - Cốc; cốc; cốc. - Ai đấy ? - Bác Gấu Đen đây ! Cho bác vào trú nhờ có được không ? Thỏ Trắng bước ra mở cửa. - Ồ ! Chào Bác Gấu Đen, mời bác vào đây, bác ướt hết rồi ! Thỏ Trắng dắt bác Gấu Đen vào nhà, kéo ghế mời bác ngồi trước bếp lò. Gấu Đen hơ người một lúc, nước mưa trên mặt cũng khô, trên cổ cũng khô. Trong khi bác Gấu Đen sưởi ấm. Thỏ Trắng bưng ra một đĩa bánh mời bác Gấu Đen ăn. Gấu Đen cảm động nói : -Cảm ơn Thỏ Trắng. Gấu Đen ăn xong, Thỏ Trắng và bác Gấu Đen cùng đi ngủ. Nửa đêm bão nổi lên ầm ầm cành cây kêu răng rắc. Có tiếng đập cửa thình thình : - Bạn Thỏ Trắng ơi ! Cho tôi vào trú nhờ với, nhà của tôi đổ mất rồi ! Gấu Đen vội choàng dậy, chạy ra mở cửa. Thỏ Nâu vừa khóc vừa kể với bác Gấu Đen và Thỏ Trắng. - Hu, hu, hu,nhà bị đổ mất rồi. Làm thế nào bây giờ ! Gấu Đen kéo Thỏ Nâu đến bên đống lửa an ủi Thỏ Nâu: - Cháu sưởi cho ấm người đi ! Nhà bị đổ à ? Lo gì. Sáng mai bác sẽ làm lại nhà cho cháu. Thỏ Trắng cũng nói : - Bạn đừng lo. Sáng mai tôi cũng sẽ giúp bạn làm lại nhà ! - Thỏ Nâu sưởi một lúc, nước mưa trên người đã khô. Lúc này Thỏ Nâu mới ân hận là đã đuổi bác Gấu Đen. Thỏ Nâu ngập ngừng định xin lỗi bác Gấu. - Thỏ Nâu đừng buồn bác không giận cháu đâu. Thôi bác cháu ta đi ngủ kẻo khuya quá rồi ! Đêm hôm ấy, Thỏ Nâu và Thỏ Trắng ôm bác Gấu Đen ngủ ngon lành. |
Mẹ
em đi chơ đàng trong
Mua em cây mía vừa cong vừa dài
Mẹ em đi chợ đàng ngoài
Mua em cây mía vừa dài vừa cong
Mua em cây mía vừa cong vừa dài
Mẹ em đi chợ đàng ngoài
Mua em cây mía vừa dài vừa cong
3 . Giọng hót chim Sơn Ca
Một hôm chim Sẻ được các bạn cử đến gặp Sơn Ca. Chim Sẻ
hỏi Sơn Ca :
- Bạn Sơn Ca ơi, có phải bác Mặt Trời cho bạn giọng hát mê li ấy không ? - Không phải đâu. Bác Mặt Trời tốt bụng chỉ cho tôi những tia nắng vàng rực rỡ, ấm áp thôi.
- Thế có phải cô Mây Hồng đã cho bạn giọng hót hay không ?
- Cũng không phải đâu bạn Sẻ ạ. Cô Mây Hồng xinh đẹp chỉ cho tôi những tảng bông êm dịu thôi.
- Ôi Sơn Ca đáng yêu : Thế ai đã cho bạn giọng hót hay ?
Chim Sẻ và cả bầy chim không hiểu tại sao mà Sơn Ca có
giọng hót tuyệt vời đến thế. Các bạn quyết định đến trường hỏi cô giáo Hoạ
Mi. Nghe các học trò của mình hỏi, cô giáo Hoạ Mi cười rất vui. Cô nói :
- Cô và các cháu cùng nhau tìm hiểu điều đó. Sáng mai cô
sẽ đợi các cháu, ta cùng đến nhà bạn Sơn Ca. Nhưng các cháu phải nhớ dậy sớm
đấy.
Sáng hôm sau, khi đến nhà Sơn Ca, các bạn thấy Sơn Ca vừa chuyền cành vừa hót say sưa. Thỉnh thoảng Sơn Ca vừa nghiêng đầu lắng nghe tiếng cây cối xào xạc, tiếng suối chảy róc rách. Nghe rất kĩ, rất lâu những âm thanh ấy rồi Sơn Ca mới bắt chước theo. Các bạn chim lúc ấy mới chợt hiểu vì sao Sơn Ca có giọng hót hay đến thế. Cả đàng chim ríu rít cất tiếng hoà với giọng hót của Sơn Ca. Rừng cây rộn ràng tiếng hót của bầy chim non chào mừng ngày mới.
THU THỦY st
|
4. Hoa mào gà
Ngày xưa chú gà nào cũng có một cái mào đỏ rất đẹp như
mào các chú gà trống bây giờ. Một buổi sớm gà Mơ soi mình trong vũng nước và
sung sướng thấy chiếc mào rực rỡ xoè trên đỉnh đầu như một chùm hoa đỏ rực. Gà
Mơ khoan khoái đập cánh và hát bài hát quen thuộc của họ hàng nhà gà : “Cục ta
cục tác, mào ta đã mọc, cục ta cục tác, mào ta đã mọc”.
Mọi vật quay ra nhìn Gà Mơ và cùng suýt xoa : “Chiếc
mào mới xinh xắn làm sao; Trông Gà Mơ thật đáng yêu”. Gà Mơ đi tung tăng khắp
nơi kiếm mồi. Nó đến bên bể nước và nghe thấy có tiếng khóc ti tỉ. Nó dừng lại
nghiêng đầu, chớp chớp đôi mắt và lắng tai nghe. Thì ra có một cây mầu đỏ tía
đang tấm tứt khóc một mình. Gà Mơ đang vui sướng, thấy bạn buồn, Mơ bỗng bối
rối. Nó vội vàng chạy đến khẽ hỏi :
-Bạn sao thế ?
Cây rơi hạt nước mắt trong suốt như hạt sương xuống
gốc và sụt sịt bảo :
-Các cây quanh đây, cây nào cũng có hoa mà chỉ có mỗi mình tôi không có hoa.
Chưa nói dứt câu, cây lại bật khóc, nước mắt cứ rơi xuống thánh thót. Gà Mơ an ủi bao nhiêu cũng không làm cây nín. Gà Mơ nghĩ một lúc rồi quyết định :
-Các cây quanh đây, cây nào cũng có hoa mà chỉ có mỗi mình tôi không có hoa.
Chưa nói dứt câu, cây lại bật khóc, nước mắt cứ rơi xuống thánh thót. Gà Mơ an ủi bao nhiêu cũng không làm cây nín. Gà Mơ nghĩ một lúc rồi quyết định :
-Tôi cho bạn bông hoa đỏ trên đầu tôi nhé.
Cây sung sướng vẫy lá rối rít :
- Thế bạn cho tôi thật nhé ! Cám ơn bạn !
Sáng hôm sau, mọi người ngạc nhiên khi thấy chiếc áo
mào đẹp đẽ của Gà Mơ biến đâu mất. Còn cái cây bên bể nước thì lại nở chùm hoa
rực rỡ y hệt chiếc mào của Gà Mơ.
Cây hoa sung sướng đón ánh mặt trời nhuộm cho bông hoa
thêm đỏ thắm. Cây khe khẽ kể cho mọi người nghe câu chuyện về lòng tốt của Gà
Mơ. Thế là mọi người gọi cây hoa đó là cây hoa mào gà.
Trên đầu Gà Mơ bây giờ cũng nhú lên một chiếc mào mới
nho nhỏ, xinh xinh rồi đấy.
(st)
5. Đôi bạn tốt
Thím Vịt bận đi chợ xa đem con đến gởi bác gà mái mẹ.
Gà mái mẹ gọi con ra chơi với Vịt con.
Gà con xin phép mẹ dẫn Vịt con ra vườn chơi và tìm
giun để ăn. gà con nhanh nhẹn đi trước. Vịt con lạch bạch theo sau.
Thấy Vịt con chậm chạp, Gà con tỏ ra không thích lắm.
Ra tới vườn, Gà con lấy hai chân bới đất tìm giun. Ngón chân của Vịt có màng
không bới đất được. Vịt con cứ lạch bạch khiến đất bị nén xuống.
Gà con không tài nào tìm giun được. Gà con tức quá nói
với Vịt con :
-Bạn chẳng biết bới gì cả, bạn đi chỗ khác chơi để tôi bới một mình vậy.
Vịt con thấy Gà con cáo với mình cũng buồn, liền bỏ ra ao tìm tép ăn. Một con Cáo mắt xanh, đuôi dài nấp trong bụi rậm, thấy Gà con đi tìm mồi một mình định nhảy ra vồ. Gà con sợ quá vội ba chân bốn cẳng chạy ra bờ ao. Gà con vừa chạy vừa kêu : “Chiếp, chiếp, chiếp !”.
-Bạn chẳng biết bới gì cả, bạn đi chỗ khác chơi để tôi bới một mình vậy.
Vịt con thấy Gà con cáo với mình cũng buồn, liền bỏ ra ao tìm tép ăn. Một con Cáo mắt xanh, đuôi dài nấp trong bụi rậm, thấy Gà con đi tìm mồi một mình định nhảy ra vồ. Gà con sợ quá vội ba chân bốn cẳng chạy ra bờ ao. Gà con vừa chạy vừa kêu : “Chiếp, chiếp, chiếp !”.
Vịt con đang lặn ngụp tìm tép, nghe tiếng bạn gọi vội
lướt nhanh vào bờ kịp cõng bạn ra xa. Cáo chạy tới bờ đã thấy Gà và Vịt đang ở
gần ao sâu. Chờ mãi không được, Cáo liếm mép và bỏ đi. Nhờ Vịt có đôi chân như
mái chèo bơi rất nhanh mà Gà con thoát chết... Lúc này Gà con mới thấy việc
mình đuổi Vịt con là không tốt, và xin lỗi bạn. Vịt con không giận mà còn mò
tép cho gà con ăn.
Từ đấy mỗi khi Vịt con đến chơi. Gà con mừng tíu tít
đi tìm giun cho Vịt con ăn. Gà con nhanh nhẹn đi trước, Vịt con lạch bạch theo
sau. Hai bạn gà và Vịt rất quý mến nhau.
(sưu
tầm)
III. ĐỒNG DAO
1 . TẬP TẦM VÔNG
Tập tầm vông,
Tay không, tay có
Tập tầm vó,
Tay có, tay không"
Tập tầm vông,
con công hay múa,
nó múa làm sao,
nó rụt cổ vào,
nó xòe cánh ra,
nó đậu cành đa,
nó kêu ríu rít,
nó đậu cành mít,
nó kêu vịt chè,
nó đậu cành tre,
kêu bè rau muống,
nó đậu dưới ruộng,
nó kêu tầm vông.
Tập tầm vông....
Tập tầm vông,
Tay không, tay có
Tập tầm vó,
Tay có, tay không"
Tập tầm vông,
con công hay múa,
nó múa làm sao,
nó rụt cổ vào,
nó xòe cánh ra,
nó đậu cành đa,
nó kêu ríu rít,
nó đậu cành mít,
nó kêu vịt chè,
nó đậu cành tre,
kêu bè rau muống,
nó đậu dưới ruộng,
nó kêu tầm vông.
Tập tầm vông....
2. Lúa ngô là cô đậu nành
Lúa
ngô là cô đậu nành
Đậu nành là anh dưa chuột
Dưa chuột là ruột dưa gang
Dưa gang là nàng dưa hấu
Dưa hấu là cậu lúa ngô
Lúa ngô là cô đậu nành.
Đậu nành là anh dưa chuột
Dưa chuột là ruột dưa gang
Dưa gang là nàng dưa hấu
Dưa hấu là cậu lúa ngô
Lúa ngô là cô đậu nành.
3. Em tôi buồn ngủ buồn nghê
Em tôi buồn ngủ buồn nghê
Buồn ăn cơm nếp, cháo khê, thịt gà
Buồn ăn bánh đúc, bánh đa
Củ từ, khoai nước, cùng là cháo kê.
Buồn ăn cơm nếp, cháo khê, thịt gà
Buồn ăn bánh đúc, bánh đa
Củ từ, khoai nước, cùng là cháo kê.
4. Con kiến mà leo cành đa
Con kiến mà leo cành đa
Leo phải cành cộc leo ra, leo vào
Con kiến mà leo cành đào
Leo phải cành cộc leo vào, leo ra.
Leo phải cành cộc leo ra, leo vào
Con kiến mà leo cành đào
Leo phải cành cộc leo vào, leo ra.
C . GIAI ĐOẠN III
I . THƠ
1. Cây dây leo
Cây dây leo
Bé tí teo
Ở trong nhà
Lại bò ra
Ngoài cửa sổ
Và nghểnh cổ
Lên trời cao
Hỏi vì sao?
Cây trả lời:
- Ra ngoài trời
Cho dễ thở
Ngắm nắng gió
Gội mưa rào
Cây mới cao
Hoa mới đẹp
(Xuân Tửu)
2. Ong và bướm
Con bướm trắng
Lượn vườn hồng
Gặp con ong
Đang bay vội
Bướm liền hỏi
Rủ đi chơi
Ong trả lời
Tôi còn bận
Mẹ tôi dặn
Đi chơi rong
Mẹ không thích
(Nhược Thủy)
3. Gấu qua cầu.
Hai gấu con xinh
xắn
Bước đến 2 đầu cầu
Chú nào cũng muốn
mau
Vượt câu qua kia
trước
Ko ai chịu nhường
bước
Cãi nhau mãi ko
thôi
Chú nhái bén
đang bơi
Ngẩng đầu lên và
bảo
Chiếc cầu thì bé
tẹo
Ai cũng muốn
sang mau
Nếu cứ cố chen
nhau
Thì có anh ngã
chết
Bây giờ phải
đoàn kết
Cõng nhau quay 1
vòng
Đổi chỗ thế là
xong
Cả 2 cùng qua được...
4. HỒ SEN
Hoa sen đã nở
Rực rỡ đầy hồ
Thoang thoảng
gió đưa
Mùi hương thơm
ngát
Lá sen xanh ngát
Đọng hạt sương
đêm
Gió rung êm đềm
Sương long lanh
chạy.
(Nhược Thủy )
II. TRUYỆN
1 . Cóc kiện trời
Thủa xa xưa, Ngọc Hoàng cai quản tất cả các việc trên trời
và dưới đất. Ngọc Hoàng giao cho thần Mưa chịu trách nhiệm làm mưa cho tất cả
các con vật và cây cỏ có nước uống.
Nhưng đã ba năm nay, không có một giọt mưa nào. Khắp nơi đất
đai nứt nẻ, cây cỏ khát nước chết rụi, các con thú cũng chết dần chết mòn vì
khát. Muôn loài đều kêu than ai oán, vậy mà trời đâu có thấu.
Một hôm, các con vật họp bàn nhau lại, chúng quyết định cử
Cóc lên gặp Ngọc Hoàng. Cùng đi với Cóc có Cáo, Gấu và Cọp.
Bốn con vật đi mãi, cuối cùng cũng lên đến cửa nhà trời. Ở
cửa có đặt cái trống rất to. Theo tục lệ nếu ai có điều gì oan ức thì đánh
trống lên. Ngọc Hoàng sẽ ra giải quyết. Cóc bảo Cáo, Gấu, Cọp nấp vào bụi rậm,
còn Cóc thì nhảy lên đánh trống inh ỏi.
Ngọc Hoàng nghe tiếng trống liền sai một thiên thần ra nhìn
xem ai. Thiên thần bước ra nhìn ngược, nhìn xuôi mãi cũng không thấy ai, chỉ
thấy con Cóc bé nhỏ ngồi trên trống. Khi biết Cóc có ý định gặp Ngọc Hoàng để
kêu oan, thiên thần tỏ ý khinh bỉ Cóc, lẳng lặng đi vào và thưa với Ngọc Hoàng.
- Thưa Ngọc Hoàng, kẻ dám cả gan đánh trống ầm ĩ nhà
trời là một con Cóc bé tí, xấu xí khinh khủng, thần hỏi nó đi đâu, nó nói lên
Ngọc Hoàng để kiện.
Ngọc Hoàng nghe thiên thần nói như vậy thì lấy làm giận lắm,
bèn sai bầy Gà ra mổ Cóc. Nhưng bầy Gà vừa ló khỏi cửa, Cóc ra hiệu cho Cáo từ
bụi rậm xong ra vồ gà.
Biết Gà bị Cáo vồ mất, Ngọc Hoàng liền sai Chó ra giết Cáo.
Chó chạy ra chỉ kịp sủa “Gâu gâu gâu ” mấy tiếng đã bị Gấu ra chộp lấy tha đi.
Ngọc Hoàng lại sai một toán lính ra trị Gấu. Lần này, Cọp xông ra quật chết
toán lính không còn sót một người nào.
Ngọc Hoàng không ngờ Cóc tuy bé nhỏ mà lại khó trị như vậy,
Ngọc Hoàng đổi giận thành làm lành sai thiên thần ra mời Cóc vào. Ngọc Hoàng
hỏi Cóc:
- “Cậu” lên đây có việc gì?
Cóc thưa:
- Muôn tâu Ngọc Hoàng, đã 3 năm nay chúng tôi không
được một giọt mưa nào. Loài vật cử tôi lên đây để kiện trời, vì sao không làm
mưa?
Ngọc Hoàng cho gọi thần mưa đến. Té ra thần Mưa mải rong
chơi tối về đắp chiếu nằm ngủ, quên không làm mưa bị Ngọc Hoàng trách mắng,
thần Mưa vội sai các con rồng phun nước ào ào xuống đất. Ngọc Hoàng đưa tiễn
Cóc ra về và dặn:
- Từ nay về sau, nếu cần mưa thì Cóc nghiến răng ken
két báo cho Ngọc Hoàng biết. Ta sẽ sai thần làm mưa ngay. Cóc không phải lên
kiện trời nữa.
Cóc, Cáo, Gấu, Cọp từ biệt Ngọc Hoàng trở về dưới đất. Khi
bốn con vật đến nơi thì thấy nước đã tràn đầy hồ, ao, sông, suối, cây cỏ, muôn
loài uống nước thỏa thuê. Tất cả đều phục Cóc bé tí mà kiện được trời nên đặt
ra câu hát:
“Con cóc là cậu ông trời
Hễ ai đánh Cóc thì trời đánh cho”.
III . ĐỒNG DAO
1 . Chú Cuội ngồi gốc cây đa
Chú Cuội ngồi gốc cây đa
Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời
Cha còn cắt cỏ trên trời
Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên
Ông thì cầm bút, cầm nghiên
Ông thì cầm tiền đi chuộc lá đa.
Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời
Cha còn cắt cỏ trên trời
Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên
Ông thì cầm bút, cầm nghiên
Ông thì cầm tiền đi chuộc lá đa.
2 . Con gà cục tác lá chanh
Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.
3 . Cái bống đi chợ cầu
Cái bống đi chợ cầu
Cái tôm đi trước, củ hành đi sau
Con cua lạch đạch theo hầu
Cái chài rơi xuống vỡ đầu con cua.
Cái tôm đi trước, củ hành đi sau
Con cua lạch đạch theo hầu
Cái chài rơi xuống vỡ đầu con cua.
4. Con vỏi con voi
Con vỏi con voi
Cái vòi đi trước
Hai chân trước đi trước
Hai chân sau đi sau
Còn cái đuôi
Đi sau rốt
Tôi xin kể nốt
Cái chuyện con voi.
Cái vòi đi trước
Hai chân trước đi trước
Hai chân sau đi sau
Còn cái đuôi
Đi sau rốt
Tôi xin kể nốt
Cái chuyện con voi.
MẪU GIÁO NHỠ
A . GIAI ĐOẠN I
I . THƠ
1 . Trăng sáng
Sân nhà em sáng quá
Nhờ ánh trăng sáng ngời
Trăng tròn như cái đĩa
Lơ lửng mà không rơi.
Những hôm nào trăng khuyết
Trông giống con thuyền trôi
Em đi trăng theo bước
Như muốn cùng đi chơi.
Nhờ ánh trăng sáng ngời
Trăng tròn như cái đĩa
Lơ lửng mà không rơi.
Những hôm nào trăng khuyết
Trông giống con thuyền trôi
Em đi trăng theo bước
Như muốn cùng đi chơi.
( Nhược
Thủy – Phương Hoa)
2 . Mặt trời của bé
Ông Mặt Trời chăm chỉ
Chiếu sáng cho muôn loài
Ông làm việc vất vả
Không so bì cùng ai
Từ sáng sớm ban mai
Khi bé còn ngái ngủ
Nghe mặt trời khuyên nhủ
Dậy đi em: học bài
Và cứ thế cứ thế
Luôn thì thầm bên tai
Bé lớn dần một – hai
Mặt trời đưa tới lớp
Chiều về bóng vươn dài
Em hứa mãi vâng lời
Ông mặt trời khuyên bảo
Dậy sớm, học bài tốt
Không la cà, rong chơi
Những hôm trời mưa to
Mặt trời đi đâu nhỉ?
Buồi thiu mặt cu tí
Ngồi nhìn mưa rơi rơi
Rồi bé tự trả lời
Mặt trời đùa cùng bé
Chơi trốn tìm đấy thôi
(Trần Duy Bình)
3. Em vẽ
Con gà trống
Mào đỏ tươi.
Em vẽ
Con mèo lười
Nằm sưởi nắng.
Em vẽ
Đôi bướm trắng
Bay tung tăng.
Em vẽ
Bác mặt trăng
Tỏa ánh sáng.
Em vẽ
Cánh đồng lúa
Ngát hương thơm.
Em vẽ
Nhiều mái trường
Tươi ngói đỏ.
( Hoàng Thanh Hà)
Con gà trống
Mào đỏ tươi.
Em vẽ
Con mèo lười
Nằm sưởi nắng.
Em vẽ
Đôi bướm trắng
Bay tung tăng.
Em vẽ
Bác mặt trăng
Tỏa ánh sáng.
Em vẽ
Cánh đồng lúa
Ngát hương thơm.
Em vẽ
Nhiều mái trường
Tươi ngói đỏ.
( Hoàng Thanh Hà)
II. TRUYỆN
1 . Truyện ông giong
Vào đời vua Hùng thứ sáu, giặc Ân tàn bạo sang xâm chiếm nước
ta. Vua Hùng sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi để đánh giặc cứu nước.
Thuở ấy, ở làng Phù Đổng, có một bà mẹ sinh được một đứa con trai, đặt tên là Gióng. Gióng đã lên ba mà vẫn chưa biết nói, biết cười.
Một hôm, sứ giả về làng bắt loa gọi:
- Loa, loa, loa! Ai là người tài giỏi, hãy ra đánh giặc cứu nước!
Gióng lắng nghe rồi bỗng nhiên bật dậy và nói với mẹ:
- Mẹ ơi! Mẹ ra mời sứ giả vào đây cho con!
Mẹ Gióng ngạc nhiên quá, cứ đứng sững sờ nhìn con, mãi sau mới lật đật chạy ra mời sứ giả. Sứ giả vào đến nhà, Gióng nói dõng dạc:
- Hỡi sứ giả, hãy về tâu với vua Hùng rèn cho ta một con ngựa sắt, một chiếc nón sắt và một chiếc gậy sắt để ta đi đánh giặc.
Sứ giả đi rồi. Gióng bảo mẹ thổi cơm cho ăn. Mẹ Gióng thổi cơm, rồi cả làng thổi cơm, bao nhiêu Gióng ăn cũng hết. Ăn xong, Gióng vươn vai đứng dậy thành một chàng trai cao lớn, khỏe mạnh.
Trong khi ấy, tất cả các lò rèn đêm ngày đúc ngựa, rèn gậy cho Gióng. Chẳng bao lâu sau, ngựa sắt, nón sắt, roi sắt đã làm xong.
Gióng mặc áo giáp sắt,đội nón, cầm gậy, nhảy phóc lên lưng ngựa. Ngựa sắt hí vang, phun ra lửa rồi phóng như bay ra trận. Lúc đó, giặc Ân đang tràn đi khắp nơi giết người, cướp của. Gióng thúc ngựa phi thẳng vào quân giặc. Gậy sắt vung lên như ánh chớp đánh xuống đầu quân giặc, ngựa sắt phun lửa thiêu lũ giặc ra tro. Bỗng nhiên, cây gậy sắt của Gióng bị gãy. Gióng quơ nhổ từng bụi tre trên đường quật túi bụi và quân giặc. Giặc Ân thua chạy tan tác, xác giặc ngổn ngang khắp nơi.
Đánh xong giặc Ân, Gióng cưỡi ngựa bay qua làng Phù Đổng, bay thẳng lên núi Sóc Sơn.
Đời sau, để nhớ ơn Gióng có công đánh giặc, cứu nước, nhân dân ta đã lập đền thờ Gióng ở làng Phù Đổng.
Thuở ấy, ở làng Phù Đổng, có một bà mẹ sinh được một đứa con trai, đặt tên là Gióng. Gióng đã lên ba mà vẫn chưa biết nói, biết cười.
Một hôm, sứ giả về làng bắt loa gọi:
- Loa, loa, loa! Ai là người tài giỏi, hãy ra đánh giặc cứu nước!
Gióng lắng nghe rồi bỗng nhiên bật dậy và nói với mẹ:
- Mẹ ơi! Mẹ ra mời sứ giả vào đây cho con!
Mẹ Gióng ngạc nhiên quá, cứ đứng sững sờ nhìn con, mãi sau mới lật đật chạy ra mời sứ giả. Sứ giả vào đến nhà, Gióng nói dõng dạc:
- Hỡi sứ giả, hãy về tâu với vua Hùng rèn cho ta một con ngựa sắt, một chiếc nón sắt và một chiếc gậy sắt để ta đi đánh giặc.
Sứ giả đi rồi. Gióng bảo mẹ thổi cơm cho ăn. Mẹ Gióng thổi cơm, rồi cả làng thổi cơm, bao nhiêu Gióng ăn cũng hết. Ăn xong, Gióng vươn vai đứng dậy thành một chàng trai cao lớn, khỏe mạnh.
Trong khi ấy, tất cả các lò rèn đêm ngày đúc ngựa, rèn gậy cho Gióng. Chẳng bao lâu sau, ngựa sắt, nón sắt, roi sắt đã làm xong.
Gióng mặc áo giáp sắt,đội nón, cầm gậy, nhảy phóc lên lưng ngựa. Ngựa sắt hí vang, phun ra lửa rồi phóng như bay ra trận. Lúc đó, giặc Ân đang tràn đi khắp nơi giết người, cướp của. Gióng thúc ngựa phi thẳng vào quân giặc. Gậy sắt vung lên như ánh chớp đánh xuống đầu quân giặc, ngựa sắt phun lửa thiêu lũ giặc ra tro. Bỗng nhiên, cây gậy sắt của Gióng bị gãy. Gióng quơ nhổ từng bụi tre trên đường quật túi bụi và quân giặc. Giặc Ân thua chạy tan tác, xác giặc ngổn ngang khắp nơi.
Đánh xong giặc Ân, Gióng cưỡi ngựa bay qua làng Phù Đổng, bay thẳng lên núi Sóc Sơn.
Đời sau, để nhớ ơn Gióng có công đánh giặc, cứu nước, nhân dân ta đã lập đền thờ Gióng ở làng Phù Đổng.
2 . Cậu bé Tích Chu
Ngày xưa, có một bạn
tên là Tích Chu. Bố mẹ Tích Chu mất sớm, Tích Chu ở với bà.
Hàng ngày bà phải làm
việc quần quật kiếm tiền nuôi Tích Chu, có thức gì ngon bà cũng dành cho Tích
Chu. Ban đêm, khi Tích Chu ngủ thì bà thức quạt. Thấy bà thương Tích Chu, có
người bảo: truyện cổ tích
- Bà ơi! Lòng bà thương Tích Chu cao
hơn trời, rộng hơn biển. Lớn lên, Tích Chu sẽ không khi nào quên ơn bà.
Thế nhưng lớn lên, Tích
Chu lại chẳng thương bà. Bà thì suốt ngày làm việc vất vả, còn Tích Chu suốt
ngày rong chơi. Vì làm việc vất vả, ăn uống lại kham khổ nên bà bị ốm. Bà lên
cơn sốt nhưng chẳng ai trông nom. Tích Chu mãi rong chơi với bạn bè, chẳng nghĩ
gì đến bà đang ốm. Một buổi trưa, trời nóng nực, cơn sốt lên cao, bà khát nước
quá liền gọi: truyen dan gian
- Tích Chu ơi, cho bà ngụm nước. Bà
khát khô cổ rồi!
Bà gọi một lần, hai
lần…rồi ba lần nhưng vẫn không thấy Tích Chu đáp lại. Mãi sau Tích Chu thấy đói
mới chạy về nhà kiếm cái ăn. Tích Chu ngạc nhiên hết sức thấy bà biến thành
chim và vỗ cánh bay lên trời. Tích Chu hoảng quá kêu lên:
- Bà ơi! Bà đi đâu? Bà ở lại với
cháu. Cháu sẽ mang nước cho bà, bà ơi!
- Cúc cu … cu! Cúc … cu cu! Chậm mất
rồi cháu ạ, bà khát quá không thể chịu nổi phải hóa thành chim để bay đi kiếm
nước. Bà đi đây, bà không về nữa đâu!
Nói rồi chim vỗ cánh
bay đi.
Tích Chu hoảng quá chạy
theo bà, cứ nhằm theo hướng chim bay mà chạy. Cuối cùng Tích Chu gặp chim đang
uống nước ở một dòng suối mát. Tích Chu gọi:
- Bà ơi! Bà trở về với cháu đi. Cháu
sẽ đi lấy nước cho bà, cháu sẽ giúp đỡ bà, cháu sẽ không làm bà buồn nữa!
- Cúc …cu…cu, muộn quá rồi cháu ơi!
Bà không trở lại được nữa đâu!
Nghe chim nói, Tích Chu
òa khóc, Tích Chu thương bà và hối hận. Giữa lúc đó, có một bà tiên hiện ra, bà
bảo Tích Chu:
- Nếu cháu muốn bà trở lại thành
người thì cháu phải đi lấy nước suối Tiên cho bà cháu uống. Đường lên suối Tiên
xa lắm, cháu có đi được không?
Nghe bà Tiên nói, Tích
Chu mừng rỡ vô cùng, vội vàng hỏi đường đến suối Tiên, rồi chẳng một phút chần
chừ, Tích Chu hăng hái đi ngay.
Trải qua nhiều ngày đêm
lặn lội trên đường, vượt qua rất nhiều nguy hiểm, cuối cùng Tích Chu đã lấy
được nước suối mang về cho bà uống. Được uống nước suối Tiên, bà Tích Chu trở
lại thành người và về ở với Tích Chu.
Từ đấy, Tích Chu hết
lòng yêu thương chăm sóc bà.
3 . Củ cải trắng
Mùa
đông đã đến rồi, trời lạnh buốt. Thỏ con không còn gì để ăn nữa, nó đành mặc áo
ấm và đi ra khỏi nhà để tìm cái ăn. Thỏ tìm, tìm mãi, bỗng nhiên Thỏ con reo
lên một cách sung sướng:
- Ôi! Ở đây có hai củ cải trắng, mình mới may mắn làm sao.
Thỏ con liền nhổ hai củ cải trắng lên khỏi mặt đất và vội vàng đi về nhà. Đi được một lúc, Thỏ con chợt nhớ tới Dê con.
- Trời lạnh thế này chắc Dê con chẳng có gì ăn. Ta phải mang cho Dê con một củ cải trắng mới được.
Thỏ con đến nhà Dê con, nhưng Dê con đi vắng. Thỏ để một củ cải trắng trên bàn của Dê con rồi ra về.
Dê con đi kiếm ăn, nó kiếm được một cái bắp cải, Dê con ăn một nửa còn một nửa để dành cho ngày hôm sau. vừa mở cửa vào nhà, Dê con nhìn thấy củ cải trắng trên bàn, nó ngạc nhiên kêu lên:
- Ôi! Củ cải ở đâu ngon thế này?
Dê con ngắm nghía củ cải rồi chợt nghĩ:
- Trời lạnh thế này, chắc Hươu con không có gì ăn. Ta phải đem cho Hươu con củ cải trắng mới được.
Dê con đến nhà Hươu con,nhưng Hươu con không có ở nhà, Dê con liền đặt củ cải trắng trên bàn Hươu con rồi ra về.
Hươu con từ rừng trở về, nó ngạc nhiên khi thấy có một củ cải trắng rất ngon ở trên bàn. Hươu con định ăn nhưng nó chợt nghĩ:
- Trời lạnh thế này, chắc Thỏ con không có gì ăn, ta phải đem củ cải trắng này đến cho Thỏ con mới được
Hươu con vội vã đến nhà Thỏ con. Thỏ con đang ngủ say. Hươu con không muốn đánh thức bạn dậy, lặng lẽ đặt củ cải trắng trên bàn Thỏ con rồi ra về.
Thỏ con ngủ mãi, ngủ mãi, đến khi tỉnh dậy ngạc nhiên vô cùng, trên bàn của Thỏ có một củ cải trắng. Thỏ kêu lên:
- Ôi! Sao củ cải trắng lại ở đây nhỉ?
Thỏ con suy nghĩ và hiểu rằng: những người bạn tốt đã đem củ cải trắng đến cho mình.
- Ôi! Ở đây có hai củ cải trắng, mình mới may mắn làm sao.
Thỏ con liền nhổ hai củ cải trắng lên khỏi mặt đất và vội vàng đi về nhà. Đi được một lúc, Thỏ con chợt nhớ tới Dê con.
- Trời lạnh thế này chắc Dê con chẳng có gì ăn. Ta phải mang cho Dê con một củ cải trắng mới được.
Thỏ con đến nhà Dê con, nhưng Dê con đi vắng. Thỏ để một củ cải trắng trên bàn của Dê con rồi ra về.
Dê con đi kiếm ăn, nó kiếm được một cái bắp cải, Dê con ăn một nửa còn một nửa để dành cho ngày hôm sau. vừa mở cửa vào nhà, Dê con nhìn thấy củ cải trắng trên bàn, nó ngạc nhiên kêu lên:
- Ôi! Củ cải ở đâu ngon thế này?
Dê con ngắm nghía củ cải rồi chợt nghĩ:
- Trời lạnh thế này, chắc Hươu con không có gì ăn. Ta phải đem cho Hươu con củ cải trắng mới được.
Dê con đến nhà Hươu con,nhưng Hươu con không có ở nhà, Dê con liền đặt củ cải trắng trên bàn Hươu con rồi ra về.
Hươu con từ rừng trở về, nó ngạc nhiên khi thấy có một củ cải trắng rất ngon ở trên bàn. Hươu con định ăn nhưng nó chợt nghĩ:
- Trời lạnh thế này, chắc Thỏ con không có gì ăn, ta phải đem củ cải trắng này đến cho Thỏ con mới được
Hươu con vội vã đến nhà Thỏ con. Thỏ con đang ngủ say. Hươu con không muốn đánh thức bạn dậy, lặng lẽ đặt củ cải trắng trên bàn Thỏ con rồi ra về.
Thỏ con ngủ mãi, ngủ mãi, đến khi tỉnh dậy ngạc nhiên vô cùng, trên bàn của Thỏ có một củ cải trắng. Thỏ kêu lên:
- Ôi! Sao củ cải trắng lại ở đây nhỉ?
Thỏ con suy nghĩ và hiểu rằng: những người bạn tốt đã đem củ cải trắng đến cho mình.
III. ĐỒNG DAO
1 . Con gà
Con gả con gà
Hắn đổ trên nhà
Bay ra đống rác
Cục ta cục tác
Hắn nhảy lên chuồng
Lên giường hắn nghỉ
Ơ thằng cu Tí!
Lo đuổi gà đi
Hắn đổ trên nhà
Bay ra đống rác
Cục ta cục tác
Hắn nhảy lên chuồng
Lên giường hắn nghỉ
Ơ thằng cu Tí!
Lo đuổi gà đi
Cục ta cục tác!
Con diều hung ác
Bay lượn trên đầu
Gà con ở đâu?
Về mau mẹ ủ
Mẹ con đông đủ
Chẳng sợ diều hâu!
Con diều hung ác
Bay lượn trên đầu
Gà con ở đâu?
Về mau mẹ ủ
Mẹ con đông đủ
Chẳng sợ diều hâu!
Cục tác cục ta
Con gà nhảy ổ
Cái rổ đầu hè
Vàng hoe nắng lọt
Mẹ lót ổ gà
Cục ta cục tác
Con gà nhảy ổ
Cái rổ đầu hè
Vàng hoe nắng lọt
Mẹ lót ổ gà
Cục ta cục tác
2 . Làng chim
Hay chạy lon ton
Là gà mới nở
Là gà mới nở
Cái mặt hay đỏ
Là con gà mào
Là con gà mào
Hay bơi dưới ao
Mẹ con nhà vịt
Mẹ con nhà vịt
Hay la hay hét
Là con bồ chao
Là con bồ chao
Hay bay bổ nhào
Mẹ con bói cá
Mẹ con bói cá
3 . Đi cầu đi quán
Đi cầu đi quán
Đi bán lợn con
Đi mua cái xoong
Đem về đun nấu
Mua quả dưa hấu
Về biếu ông bà
Mua một đàn gà
Về cho ăn thóc
Mua lược chải tóc
Mua cặp gài đầu
Đi mau về mau
Kẻo trời sắp tới
Đi bán lợn con
Đi mua cái xoong
Đem về đun nấu
Mua quả dưa hấu
Về biếu ông bà
Mua một đàn gà
Về cho ăn thóc
Mua lược chải tóc
Mua cặp gài đầu
Đi mau về mau
Kẻo trời sắp tới
(Thu Hà cải biên)
IV. CA DAO
1 . Công cha như núi Thái Sơn
Công
cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Ngày nào con bé cỏn con
Bây giờ con đã lớn khôn thế này.
Cơm cha, áo mẹ, công thầy,
Lo sao cho đáng những ngày ước mong.
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Ngày nào con bé cỏn con
Bây giờ con đã lớn khôn thế này.
Cơm cha, áo mẹ, công thầy,
Lo sao cho đáng những ngày ước mong.
B . GIAI ĐOẠN II
I . THƠ
1 . Hoa kết trái
Hoa cà tim tím Hoa mận trắng tinh
Hoa mướp vàng vàng Rung rinh trong gió
Hoa lựu chói chang Này các bạn nhỏ
Đỏ như đốm lửa Đừng hái hoa tươi
Hoa vừng nhỏ xinh Hoa yêu mọi người
Hoa đỗ xinh xinh Nên hoa kết trái
Hoa cà tim tím Hoa mận trắng tinh
Hoa mướp vàng vàng Rung rinh trong gió
Hoa lựu chói chang Này các bạn nhỏ
Đỏ như đốm lửa Đừng hái hoa tươi
Hoa vừng nhỏ xinh Hoa yêu mọi người
Hoa đỗ xinh xinh Nên hoa kết trái
(Thu
Hà)
2 . Chú giải phóng quân
Chú
là chú em
Chú đi tiền tuyến, nữa đêm chú về
Ba lô con cóc to bè
Mũ tai bèo bẽ vành xòe trên vai
Cả nhà mừng quá chú ơi
Y như em đã mơ rồi đêm nao
Chú về kể chuyện vui sao
Mỹ thua cũng khóc như nhiều trẻ con
Chắp tay lạy má xin cơm
Em mà có đói, chả hèn thế đâu
Muốn xin chiếc mũ tai bèo
Làm cô giải phóng vượt đèo trường sơn
Chú đi tiền tuyến, nữa đêm chú về
Ba lô con cóc to bè
Mũ tai bèo bẽ vành xòe trên vai
Cả nhà mừng quá chú ơi
Y như em đã mơ rồi đêm nao
Chú về kể chuyện vui sao
Mỹ thua cũng khóc như nhiều trẻ con
Chắp tay lạy má xin cơm
Em mà có đói, chả hèn thế đâu
Muốn xin chiếc mũ tai bèo
Làm cô giải phóng vượt đèo trường sơn
3 . Tết đang vào nhà
Hoa đào trước ngõ
Cười vui sáng hồng
Hoa mai trong vườn
Rung rinh cánh trắng
Sân nhà đầy nắng
Mẹ phơi áo hoa
Em dán tranh gà
Ông treo câu đối
Têt đang vào nhà
Sắp them một tuổi
Trời đất nở hoa
Hoa đào trước ngõ
Cười vui sáng hồng
Hoa mai trong vườn
Rung rinh cánh trắng
Sân nhà đầy nắng
Mẹ phơi áo hoa
Em dán tranh gà
Ông treo câu đối
Têt đang vào nhà
Sắp them một tuổi
Trời đất nở hoa
II. TRUYÊN
1 . Sự tích cây Khế
Một
nhà kia có hai anh em, cha mẹ đều chết cả. Hai anh em chăm lo làm lụng, nên
trong nhà cũng đủ ăn. Muốn cho vui cửa vui nhà, hai người cùng lấy vợ. Nhưng từ
khi có vợ, người anh sinh ra lười biếng, bao nhiêu công việc khó nhọc, đều trút
cả cho hai vợ chồng người em.
Hai vợ chồng người em thức khuya dậy sớm, lại cố gắng cày cấy, làm cỏ, bỏ phân, lúa tốt hơn trước, nên đến mùa, được bội thu. Thấy thế, người anh sợ em kể công chiếm lấy phần hơn, vội bàn với vợ cho hai vợ chồng người em ra ở riêng. sự tích việt nam
Hai vợ chồng người em thức khuya dậy sớm, lại cố gắng cày cấy, làm cỏ, bỏ phân, lúa tốt hơn trước, nên đến mùa, được bội thu. Thấy thế, người anh sợ em kể công chiếm lấy phần hơn, vội bàn với vợ cho hai vợ chồng người em ra ở riêng. sự tích việt nam
Ra ở
riêng với vợ, người em được người anh chia cho có một căn nhà tranh lụp xụp,
trước nhà có một cây khế ngọt. Hai vợ chồng người em không phàn nàn một lời,
hết vào rừng đốn củi đem ra chợ bán, lại đi gánh mướn, làm thuê.
Còn người anh có bao nhiêu ruộng nương đều cho làm rẽ, để ngồi không hưởng sung sướng với vợ. Thấy em không ca thán, người anh cho em là ngu si, lại càng lên mặt, không lui tới nhà em và cũng không để ý gì đến em nữa. truyen co tich
Những ngày sung sướng nhất của hai vợ chồng người em là những ngày khế chín. Quanh năm, hai vợ chồng đã chăm bón và bắt sâu, đuổi kiến cho cây khế, nên cây khế xanh mơn mởn, bóng rợp khắp mảnh vườn nhỏ bé, quả lúc lỉu cả ở những cành là sát mặt đất, trẻ lên ba cũng với tay được.
Còn người anh có bao nhiêu ruộng nương đều cho làm rẽ, để ngồi không hưởng sung sướng với vợ. Thấy em không ca thán, người anh cho em là ngu si, lại càng lên mặt, không lui tới nhà em và cũng không để ý gì đến em nữa. truyen co tich
Những ngày sung sướng nhất của hai vợ chồng người em là những ngày khế chín. Quanh năm, hai vợ chồng đã chăm bón và bắt sâu, đuổi kiến cho cây khế, nên cây khế xanh mơn mởn, bóng rợp khắp mảnh vườn nhỏ bé, quả lúc lỉu cả ở những cành là sát mặt đất, trẻ lên ba cũng với tay được.
Một buổi sáng, hai vợ chồng mang quang gánh và thúng
bị ra gốc khế, định trèo lên hái quả đem ra chợ bán thì thấy trên ngọn cây rung
động rất mạnh, như có người đang trèo. Hai vợ chồng nhìn lên thì thấy một con
chim rất lớn đang ăn những quả khế chín vàng. Hai vợ chồng đứng dưới gốc cây
xem chim ăn, đợi chim bay đi rồi mới trèo lên cây hái quả. Từ đấy, cứ mỗi buổi
sáng tinh mơ, hai vợ chồng ra hái khế, thì đã lại thấy chim ở trên cây rồi.
Thấy có người, chim vẫn cứ ăn, ung dung một lúc lâu, rồi mới vỗ cánh bay đi.
Chim ăn ròng rã như thế ngót một tháng trời, cây khế vợi hẳn quả.
Một
hôm, đứng đợi cho chim ăn xong, người vợ nói nửa bỡn nửa thật với chim: “Chim
ơi, chim ăn như thế thì còn gì là khế của nhà tôi nữa! Cây khế nhà tôi cũng sắp
hết quả rồi đấy, chim ạ!”. Chim bỗng nghển cổ, nheo mắt như cười, đáp lại: “?n
một quả, trả cục vàng! May túi ba gang, đem đi mà đựng”. Chim nhắc đi nhắc lại
câu ấy ba lần, rồi mới vỗ cánh bay đi.
Hai vợ chồng thấy chim biết nói đã lấy làm lạ, lại thấy chim bảo mình như thế, nhắc lại cho mình đến ba lần, nghe rõ mồn một, nên càng suy nghĩ, phân vân.
Nhưng rồi hai vợ chồng cũng làm theo lời chim. Người vợ lấy vài vuông vải nâu may cho chồng một cái túi, ngang dọc đúng ba gang. truyen viet nam
Hai vợ chồng thấy chim biết nói đã lấy làm lạ, lại thấy chim bảo mình như thế, nhắc lại cho mình đến ba lần, nghe rõ mồn một, nên càng suy nghĩ, phân vân.
Nhưng rồi hai vợ chồng cũng làm theo lời chim. Người vợ lấy vài vuông vải nâu may cho chồng một cái túi, ngang dọc đúng ba gang. truyen viet nam
Sáng hôm sau, hai vợ chồng vừa ăn xong thì thấy một
luồng gió mạnh cuốn cả cát bụi trước sân nhà, rồi trong chớp mắt một con chim
cực kỳ lớn hạ xuống giữa sân, quay đầu vào nhà kêu lên mấy tiếng như chào hỏi.
Người chồng xách cái túi ba gang ra sân, chim nằm rạp xuống, quay cổ ra hiệu
cho anh ngồi lên lưng mình. Anh ngồi lên lưng chim, bám vào cổ chim thật chặt.
Chim đứng dậy vươn cổ, vỗ cánh bay bổng lên trời xanh. Chim lúc bay cao, lẩn
vào mây bạc; lúc bay thấp, là là trên rừng xanh, đồi núi trập trùng. Rồi chim
bay ra biển cả mênh mông, sóng biếc cao ngất vật vào sườn những hòn đảo nhỏ,
làm tung lên những bọt trắng xóa. Anh ngồi trên lưng chim thấy biển tuyệt mù,
không biết đâu là bờ… Thốt nhiên chim bay vào một hòn đảo toàn đá trắng, đá
xanh, đá đỏ, đã ngũ sắc, phản chiếu ánh sáng rực rỡ, anh chưa từng thấy bao
giờ. Chim bay một vòng thật rộng xung quanh đảo như muốn tìm một nơi hạ cánh,
rồi bay những vòng hẹp hơn, là là trên các ngọn đá, lắm lúc anh tưởng như mình
sắp bị va vào những tảng đá khổng lồ. Bay đến trước mặt cái hang rộng và sâu,
chim từ từ hạ xuống. Ðặt chân xuống đảo, anh nhìn ngó khắp nơi, tuyệt nhiên
không thấy một sinh vật nào, không có đến một ngọn cỏ hay một mống chim sâu.
Chim
ra hiệu bảo anh vào hang, muốn lấy gì thì lấy. Ở ngay cửa hang, anh đã thấy
toàn những thứ đá trong như thủy tinh và hổ phách đủ các mầu; có thứ xanh như
mắt mèo, có thứ đỏ ối như mặt trời, còn vàng bạc thì nhiều như sỏi đá. Thấy
hang sâu và rộng, anh không dám vào sợ lạc. Anh nhặt một ít vàng và kim cương
bỏ vào túi ba gang, rồi trèo lên lưng chim, ra hiệu cho chim bay về. co tich viet nam
Chim tỏ vẻ vui mừng, gật gật cái đầu, vươn cổ kêu vài
tiếng, rồi vỗ cánh bay lên trời xanh, bay qua biển, qua rừng, qua núi. Mặt trời
mới vừa đứng bóng, chim đã hạ cánh xuống cái vườn nhỏ có cây khế ngọt. Người vợ
thấy chồng về bình yên, mừng rỡ vô cùng, chạy ra vuốt lông chim, tỏ ý cảm ơn,
ra hiệu mời chim bay lên cây khế giải khát. Chim bay lên cây khế ăn một lúc,
rồi kêu ba tiếng như chào vợ chồng người nông dân, rồi bay đi. Từ đấy, lâu lâu
chim mới lại đến ăn khế.
Tiếng đồn hai vợ chồng người em thốt nhiên giàu có bay
đến tai hai vợ chồng người anh. Hai vợ chồng người anh vội vã đến chơi nhà em
để dò xét. Nghe em thật thà kể chuyện, người anh gạ đổi hết tài sản của mình để
lấy túp lều tranh và cây khế. Hai vợ chồng chỉ lo người em không chịu đổi,
không ngờ người em vui vẻ ưng thuận ngay.
Hai vợ
chồng người anh mừng rỡ như mở cờ trong bụng, lập tức giao hết tài sản của mình
cho em, và sáng hôm sau dọn ngay đến ở túp lều tranh trên mảnh vườn nhỏ có cây
khế ngọt. đến ở mảnh vườn chật hẹp, hai vợ chồng người anh không làm việc gì
cả. Còn được ít tiền hai vợ chồng đem tiêu dần, cả ngày chỉ nằm khểnh ngoài hè,
hí hửng nhìn lên cây khế, chờ chim bay đến. Một buổi sáng, có một luồng gió
mạnh tạt vào nhà, rồi hai vợ chồng thấy ngọn cây khế rung chuyển. Hai người hớt
hải chạy ra sân, vội nhìn lên cây thì quả nhiên thấy một con chim lớn đang ăn
khế. truyen viet nam
Chim
mới ăn vài quả, hai vợ chồng đã tru tréo lên: “Cả nhà chúng tôi trông vào có
cây khế, bây giờ chim ăn tào ăn huyệt như thế thì chúng tôi còn trông cậy vào
đâu!”. Chim liền đáp: “Ăn một quả, trả cục vàng. May túi ba gang, đem đi mà
đựng”; rồi chim bay vụt đi.
Hai vợ chồng người anh mừng quá, cuống quýt vái theo chim, rồi bàn nhau may túi, cãi cọ om sòm. Mới đầu, hai người định may thật nhiều túi, sau lại sợ chim không đưa đi, nên rút cục cũng chỉ may một cái túi như người em, nhưng may to gấp ba, mỗi chiều chín gang, thành một cái tay nải lớn. truyện
Hai vợ chồng người anh mừng quá, cuống quýt vái theo chim, rồi bàn nhau may túi, cãi cọ om sòm. Mới đầu, hai người định may thật nhiều túi, sau lại sợ chim không đưa đi, nên rút cục cũng chỉ may một cái túi như người em, nhưng may to gấp ba, mỗi chiều chín gang, thành một cái tay nải lớn. truyện
Sáng hôm sau, chim hạ cánh xuống sân trước túp lều
tranh. Người anh đang ăn, thấy chim bay đến, bỏ cả ăn hấp tấp chạy ra, tay xách
cái túi lớn trèo tót lên lưng chim, còn người vợ vái lấy vái để chim thần. Chim
cất cánh bay bổng lên mây xanh, qua núi qua biển cả, rồi cũng hạ cánh xuống cái
đảo khi trước.
Trên lưng chim bước xuống, người anh hoa cả mắt về
những ánh ngũ sắc ở các loại kim cương và ngọc quý chiếu ra. Ðến khi vào hang,
người anh lại càng mê mẩn tâm thần, quên cả đói cả khát, cố nhặt vàng và kim
cương cho thật đầy tay nải, lại buộc đầu ống quần và tay áo cho thật chặt rồi
nhồi nhét đầy cả hai tay áo và hai ống quần, đến nỗi nặng quá, chàng ta cố kéo
lê từng bước mà vẫn chưa ra được khỏi hang.
Chim đợi lâu quá, chốc chốc lại kêu lên vài tiếng vang
cả đảo, thúc giục anh chàng ra về. Mãi gần chiều, anh ta mới kéo được cái tay
nải đầy vàng và kim cương đến chỗ chim đang đợi. Muốn cho khỏi rơi, anh ta đặt
tay nải dưới cánh chim, rồi lấy dây thừng buộc chặt tay nải vào lưng chim và
vào cổ mình.
Chim vỗ cánh bay lên, nhưng vì nặng quá, mới bay lên
khỏi mặt đất một ít lại sa xuống. Sau chim cố gắng đạp hai chân thật mạnh xuống
đất, vươn cổ bay bổng lên. Anh chàng ngồi trên lưng chim khấp khởi mừng thầm,
cho là chỉ trong giây phút mình sẽ về đến nhà, sẽ có nhà cao cửa rộng, vườn
ruộng khắp nơi, tiêu pha hết đời thật hoang toàng cũng không hết của.
Lúc ấy, chim đã bay trên biển cả. Trời trở gió, những con sóng xám xì cất cao lên bằng mấy nóc nhà. Chim bay ngược gió rất là nhọc mệt, cổ gập hẳn xuống, hai cánh mỗi lúc một yếu dần. Túi vàng lớn thốt nhiên bị gió hất mạnh vào cánh chim. Chim buông xuôi hai cánh, đâm bổ từ lưng trời xuống biển. Chỉ trong chớp mắt, người anh bị sóng cuốn đi, cái túi lớn và những ống quần, tay áo chứa đầy vàng và châu báu dìm anh ta rất mau xuống đáy biển.
Còn chim chỉ bị ướt lông, ướt cánh một lúc, rồi chim lại vùng lên khỏi mặt nước, bay về núi , về rừng.
Lúc ấy, chim đã bay trên biển cả. Trời trở gió, những con sóng xám xì cất cao lên bằng mấy nóc nhà. Chim bay ngược gió rất là nhọc mệt, cổ gập hẳn xuống, hai cánh mỗi lúc một yếu dần. Túi vàng lớn thốt nhiên bị gió hất mạnh vào cánh chim. Chim buông xuôi hai cánh, đâm bổ từ lưng trời xuống biển. Chỉ trong chớp mắt, người anh bị sóng cuốn đi, cái túi lớn và những ống quần, tay áo chứa đầy vàng và châu báu dìm anh ta rất mau xuống đáy biển.
Còn chim chỉ bị ướt lông, ướt cánh một lúc, rồi chim lại vùng lên khỏi mặt nước, bay về núi , về rừng.
2 . CÁO, THỎ VÀ GÀ TRỐNG
Câu chuyện về chú thỏ bị cáo cướp nhà.
Ngày xửa ngày xưa, trong khu rừng nọ, có một
con Cáo và một con Thỏ. Cáo có một ngôi nhà bằng băng, còn Thỏ có một ngôi nhà
bằng gỗ. Mùa xuân đến, nhà Cáo tan ra thành nước, Cáo xin sang nhà Thỏ sưởi nhờ
rồi đuổi luôn Thỏ ra ngoài.Thỏ vừa đi vừa khóc. Một lát sau Thỏ gặp bầy Chó.
Bầy Chó hỏi Thỏ:
- Tại sao Thỏ khóc?
- Làm sao mà tôi không khóc được. Tôi có
một ngôi nhà bằng gỗ, còn Cáo, Cáo có một ngôi nhà bằng băng. Mùa xuân đến nhà
Cáo tan ra thành nước, Cáo xin sang nhà tôi sưởi nhờ rồi đuổi luôn tôi ra khỏi
nhà.
- Thỏ ơi, đừng khóc nữa!
Bầy Chó an ủi Thỏ.
- Chúng tôi sẽ đuổi được Cáo đi.
Bầy Chó cùng Thỏ đi về nhà Thỏ. Bầy Chó nói:
- Gâu! Gâu! Gâu! Cáo cút mau!
Cáo ngồi trên bệ lò sưởi nói vọng ra:
- Ta mà nhảy ra thì chúng mày tan xác!
Bầy Chó sợ quá chạy mất.
Thỏ lại ngồi dưới bụi cây và khóc. Một con Gấu
đi qua, Gấu hỏi:
- Tại sao Thỏ khóc?
- Làm sao mà tôi không khóc được. Tôi có
một ngôi nhà bằng gỗ, còn Cáo, Cáo có một ngôi nhà bằng băng. Mùa xuân đến nhà
Cáo tan ra thành nước, Cáo xin sang nhà tôi sưởi nhờ rồi đuổi luôn tôi ra khỏi
nhà.
- Thỏ ơi! Thỏ đừng khóc nữa! Ta sẽ đuổi
được Cáo đi!
- Không, Bác Gấu ơi, Bác không đuổi được
đâu. Chó đuổi mãi không được thì bác đuổi làm sao được!
- Đuổi được chứ!
Gấu nói giọng cương quyết. Gấu và Thỏ về đến
nhà Thỏ, Gấu gầm lên:
- Cáo, cút ngay!
Cáo ngồi trên bệ lò sưởi nói vọng ra:
- Ta mà nhảy ra thì chúng mày tan xác!
Gấu sợ quá chạy mất.
Thỏ trở lại ngồi dưới bụi cây và khóc. Một con
gà Trống mào đỏ đi qua, vai vác một cái hái. Gà Trống thấy Thỏ khóc bèn hỏi:
- Tại sao Thỏ khóc?
- Làm sao tôi không khóc được. Tôi có một
ngôi nhà bằng gỗ, còn Cáo có một ngôi nhà bằng băng. Mùa xuân đến nhà Cáo tan ra
thành nước, Cáo xin sang nhà tôi sưởi nhờ rồi đuổi luôn tôi ra khỏi nhà.
- Ta về nhà đi, tôi sẽ đuổi được Cáo
thôi.
- Không! Anh không đuổi được đâu. Chó
đuổi mãi không được, Gấu đuổi mãi không xong thì anh đuổi làm sao được!
- Thế mà tôi đuổi được đấy, nào đi!
Gà Trống và Thỏ cùng về nhà Thỏ. Gà Trống cất
tiếng hát:
- Cúc cù cu cu.
Ta vác hái trên vai
Đi tìm Cáo gian ác
Cáo ở đâu ra ngay!
Cáo sợ quá bảo:
- Tôi đang mặc quần áo ạ!
Gà Trống lại hát:
- Cúc cù cu cu.
Ta vác hái trên vai
Đi tìm Cáo gian ác
Cáo ở đâu ra ngay!
Cáo nói:
Cho tôi mặc áo bông đã!
Lần này thì gà quát lên:
- Cúc cù cu cu.
Ta vác hái trên vai
Đi tìm Cáo gian ác
Cáo ở đâu ra ngay!
Cáo từ trong nhà gỗ nhảy vọt ra, chạy biến vào
trong rừng. Từ đó, Thỏ lại được sống trong ngôi nhà của mình.
3 . Dê con nhanh trí
Trong ngôi nhà kia
có Dê mẹ và một chú Dê con. Một hôm, trước khi ra đồng cỏ, Dê mẹ dặn Dê
con:
- Con ở
nhà cho ngoan, mẹ đi ra đồng ăn một ít cỏ tươi để có nhiều sữa ngọt cho con bú.
Ai gọi cửa cũng đừng mở nhé! Nếu không thì con Sói vào ăn thịt con đấy!
Dê con
vâng lời mẹ và hỏi thêm:
- Thế mẹ
về thì làm sao con biết mà mở cửa?
Dê
mẹ khen con thông minh và dặn con:
- Lúc nào
mẹ về, mẹ sẽ nói: “con chó Sói hung ác, đuổi cổ nó đi”, thế là con mở
cửa cho mẹ.
Nhưng con
Sói hung ác nấp gần đó đã nghe Dê mẹ dặn Dê con như thế rồi. Dê mẹ vừa đi
khuất, con Sói hung ác đã chạy lại gõ cửa: “Cạch, cạch , cạch! Con chó Sói
hung ác, đuổi cổ nó đi”, Dê con ở trong nhà, nghe tiếng gõ cửa vội vàng
chạy ra. Nghe đúng câu mẹ dặn, nó định mở cửa nhưng nghe tiếng ồm ồm, không
giống tiếng mẹ, Dê con liền nghĩ ra một kế và bảo:
- Mẹ đấy
ư? Sao hôm nay tiếng mẹ lại ồm ồm thế?
Con Sói
sợ bị lộ nhưng vẫn khôn ngoan trả lời:
- Mẹ ra
đồng bị cảm gió nên khản tiếng đấy.
Dê con
vẫn còn ngại:
- Mọi lần
mẹ về vẫn thò chân vào khe cửa cơ mà! Chân mẹ thon thon, con nhìn là biết
ngay!
Con Sói
lại tìm cách chống chế:
- Mẹ giẫm
phải gai, sưng vù lên, thò vào khe cửa không vừa nữa. Con mở cửa cho mẹ vào!
Dê con
cúi sát xuống đất nhìn qua khe cửa. Nó thấy cái chân lem luốc, đen sì. Nó bảo
chó Sói:
- Thôi,
anh Sói ơi! Chính anh rồi! Anh cút đi kẻo mẹ tôi về húc cho anh vỡ bụng ra đấy!
Chân anh đen sì thế kia kìa! Ai còn lạ gì nữa!
Bị lộ,
con Sói vội vàng bỏ đi. Nhưng nó vẫn nghĩ cách lừa Dê con. Nó chạy ngay đến một
cửa hàng bánh. Chờ lúc người làm bánh đi vắng, nó liền thò chân vào thùng bột,
bột dính đến đầu gối. Xong xuôi, nó chạy về gọi Dê con:
- Cạch
cạch cạch! Con chó Sói hung ác, đuổi cổ nó đi!
Dê con
vội chạy ra, ngó qua khe cửa, lần này nó thấy rõ ràng 4 chân trắng. Thôi, đích
là mẹ đã về! Nhưng cái mũi thính của nó lại ngửi thấy mùi gì hôi hôi chứ không
thơm như mùi sữa của mẹ. Dê con ngần ngại, khe khẽ bắt ghế trèo lên nghếch cổ
nhìn qua khe tường. Nó thấy hai cái tai lem luốc và nhọn hoắt. Thôi đúng là tai
Sói rồi, Dê con gọi chó Sói và bảo:
- Tai anh
đen và nhọn, chẳng giống tai mẹ tôi đâu! Anh Sói hung ác ơi, cút ngay đi kẻo mẹ
tôi về, mẹ tôi lại húc cho anh vỡ bụng đấy! Sừng mẹ tôi nhọn lắm.
Con Sói
sợ bị lộ, vội vàng bỏ chạy. Nó cố hết sức tìm cách giấu đôi tai lem luốc và
nhọn hoắt mà không được. Nó chưa dám trở lại thì Dê mẹ đã về gõ cửa “Cạch,
cạch, cạch! Con chó Sói hung ác, đuổi cổ nó đi!”Dê con nghe đúng tiếng mẹ.
Nó cúi nhìn qua khe cửa, đúng là chân mẹ. Nó trèo lên nhìn qua khe tường, đúng
là tai mẹ. Nó mở ngay cửa cho mẹ vào và kể chuyện con Sói đến lừa cho mẹ nghe.
Dê mẹ ôm con vào lòng và khen con giỏi.Dê mẹ cho Dê con bú một bữa sữa thơm và
ngọt
III. ĐỒNG DAO
1 . Ông sao
Ông sảo ông sao
Ông vào cửa sổ
Ông ở với tôi
Ông ngồi lên chiếu
Tôi biếu củ khoai
Ông nhai nhóp nhép
Cái tôm cái tép
Ông ghép với rau
Ăn mau chóng lớn
Ông ngồi dậy
Ông về trời
2 . Ông giẳng ông giăng
Ông giẳng ông giăng
Xuống chơi với tôi
Có bầu có bạn
Có ván cơm xôi
Có nồi cơm nếp
Có nệp bánh chưng

Có lưng hũ rượu
Có khướu đánh đu
Thằng cu vỗ chài
Bắt trai bỏ giỏ
Cái đỏ ẵm em
Đi xem đánh cá

Có rá vo gạo
Có gáo múc nước
Có lược chải đầu
Có trâu cày ruộng
Có muống thả ao
Ông sao trên trời
Xuống chơi với tôi
Có bầu có bạn
Có ván cơm xôi
Có nồi cơm nếp
Có nệp bánh chưng
Có lưng hũ rượu
Có khướu đánh đu
Thằng cu vỗ chài
Bắt trai bỏ giỏ
Cái đỏ ẵm em
Đi xem đánh cá
Có rá vo gạo
Có gáo múc nước
Có lược chải đầu
Có trâu cày ruộng
Có muống thả ao
Ông sao trên trời
3 . Gánh gánh gồng gồng
Gánh gánh gồng gồng
Gánh sông gánh núi Gánh củi gánh cành Tay chạy cho nhanh Về xây nhà bếp Nấu nồi cơm nếp Chia ra năm phần Một phần cho mẹ Một phần cho cha Một phần cho bà Một phần cho chị Một phần cho anh Ta chạy cho nhanh Về xây nhà bếp Nấu nồi cơm nếp… |
IV . CA DAO
1 . Hôn Nhân Gia Đình
đi
ai ở không cần
Từ đây sắp tới ai mần
nấy ăn.
Anh mần được một cắc
Anh nhảy vô sòng tứ sắc
Em biết chắc anh thua
rồi
Con thơ năm sáu đứa
Gạo mượn ăn từng nồi anh
thấy không?
Áo anh vắt để trong
phòng
Muốn vô lấy áo sợ lòng
em nghi.
Vợ chồng như nước với
phi
Mở ra đậy lại mất đi
đằng nào.
Ai ơi muốn hưởng lộc
trời
Trước thờ cha mẹ, sau
thời vợ con.
Áo vá vai vợ ai không
biết
Áo vá chằng chí quyết vợ
anh.
Ăn cơm ngồi gốc cây cam
Lấy ai thì lấy về Nam em
không về.
Ba năm bú mớm còn thơ
Kể công cha mẹ biết là
ngần nao
Chữ rằng: “sinh ngã cù
lao”
Bể sâu không ví trời cao
sao bì.
Bảo cho những khách má
hồng
Thà hầu quân tử chớ hầu
thằng ngu.
Bậu về bậu giả đò điên
Chồng bậu nó phiền nó để
bậu ra
Để bậu ra có tờ có cớ
Đề bậu rồi lại nhớ lại
thương.
Bước ra cửa ngỏ thấy vợ
lớn đánh vợ nhỏ
Cắn cỏ kêu trời, Trời
đất ơi!
Xuất giá tòng phu, nhất
phu mà lưỡng phụ ở đời được đâu.
Bước lên xe lửa mở cửa
chín tầng
Mần thơ gửi vợ xin đừng
nhớ thương.
Cây khô đâu dễ mọc chồi
Mẹ già đâu dễ sống đời
với con.
Cha già ở túp lều tranh
Đói no không biết, rách
lành không hay.
Cha già ở mái lều tranh
Sớm thăm tối viếng mới
đành dạ con.
Chàng ơi nhớ đợi thiếp
về
Phòng không thiếp đợi
não nề ai hay.
Cha mẹ để của bằng non
Không bằng để đức cho
con ở đời.
Chị em thì thật là hiền
Chỉ vì đồng tiền mà mất
lòng nhau.
Chị em như chuối nhiều
tàu
Tấm lành che tấm rách
đừng nói nhau nặng lời.
Chị kia ôm gối đi đâu
Tôi là phận gái làm dâu
mới về
Bởi vì dốt nát chồng chê
Tôi về tôi học e, ê với
người.
Chiếc cầu ao dài bao
nhiêu nhịp
Em đi cho kịp kẻo mẹ
trông chờ
Mẹ già nắng sớm chiều
mưa
Muốn con khôn lớn cậy
nhờ mai sau.
Chim khôn chọn cây mà
đậu
Gái khôn chọn chồng nhậu
mà nhờ
Mai sau chết bụi chết bờ
khỏi chôn.
Chim quyên lạc nhảy vườn
đào
Vợ chồng vắng mặt lẽ nào
không thương.
Chim trời ai dễ đếm lông
Nuôi con ai dễ kể công
hằng ngày.
Chiều chiều dắt vợ vô
rừng
Bẻ roi đánh vợ biểu đừng
theo trai.
Chiều chiều lại nhớ
chiều chiều
Nhớ người áo trắng khăn
điều vắt vai
Vắt vai chạy dài xuống
thử
Vợ anh đâu còn, anh ngủ
với ai.
Chiều chiều ra đứng đầu
thôn
Ngó về quê mẹ bồn chồn
nhớ thương.
Chiều chiều ra đứng ngã
ba
Trông về quê mẹ lệ sa
đôi hàng.
Chồng người biết chữ như
tiên
Chồng em dốt nát em có
phiền hay không
Bớt ra lửa củi vài đồng
Mua giấy mua bút cho
chồng học đi
Tục rằng ăn vóc học hay
Không hơn thì cũng bằng
tài người ta
Dù mà tốt đẹp như hoa
I tờ không biết cũng là
bỏ đi
Chồng em coi bộ tinh anh
Tưởng là chồng cũng học hành
giỏi giang
Đêm nay gió hú ngoài
làng
Thấy chồng điểm chỉ bẽ
bàng lắm thay
Người thông đến chợ vô
liền
Người dốt đến chợ nộp
tiền mới vô
Chữ không có phấn có hồ
Mà sao khéo điểm khéo tô
mặt người.
Chồng giận thì vợ làm
lành
Miệng cười hớn hở hỏi
anh giận gì
Thưa anh, anh giận em
chi
Muốn cưới vợ bé, em thì
cưới cho.
Chồng khôn vợ đặng đi
giày
Vợ khôn chồng đặng có
ngày làm quan.
Chồng làm thì vợ có công
Của chồng công vợ đừng
mong của mình.
Chuột khôn cũng thể
chuột nhà
Dầu khôn dầu dại cũng là
chồng em.
Chuột nằm bồ lúa khoanh
đuôi
Con dâu bà xã đuổi ruồi
không bay.
Chưa quen đi lại cho
quen
Tuy rằng cửa đóng mà
then không cài.
Có chồng biết chữ là
tiên
Có chồng dốt nát là
duyên cno bò.
Có chồng hiền như ông
tiên nho nhỏ
Ngó vô nhà đèn đỏ đèn
xanh.
Có chồng mà lại lấy trai
Chết xuống âm phủ cưa
hai nấu dầu.
Có chồng mà chẳng có con
Khác nào hoa nở trên non
một mình.
Con chim đa đa đậu nhánh
đa đa
Chồng gần sao em không
lấy, em lấy chồng xa
Mai sau cha yếu mẹ già
Bát cơm đôi đũa bộ kỷ
trà ai bưng.
Con mèo trèo lên cây táo
Mẹ chồng láu kháu đánh
chửi nàng dâu
Bà ơi tui không sợ bà
đâu
Hồi nào bà cưới bà xin
tui về
Bây giờ bà nhúng bà trề
Sai con bà đuổi tui về
xứ tui
Tui đòi cặp áo đôi hồng
Hai họ đừng hòng đưa
tiễn qua sông.
Con không cha mẹ nào răn
Ngẫm như trái bưởi ai
lăn nó tròn.
Con ơi ở lại với dì
Má đi mần mắm tháng ba
má về
Má về có cá con ăn
Có khô con nướng có em
con bồng.
Con tôi khát sữa mút tay
Ai cho bú giúp đôi ngày
tôi mang ơn.
Công danh chi nữa mà chờ
Nấu cơm cho vợ đặng nhờ
tấm thân.
Chim quyên ăn trái nhãn
lồng
Lia thia quen chậu vợ
chồng quen hơi.
Da vàng cắt ruột máu rơi
Ruột đau chưa thấy bằng
lời thiết tha.
Dang tay đánh thiếp sao
đành
Tấm rách ai vá tấm lành
ai may.
Dang tay dưới gió thiếp
kể công khó cho chàng nghe
Từ hồi chàng đau ban cua
lưỡi trắng
Cháo đậu xanh chàng còn
chê đắng
Cháo trắng chàng còn chê
hôi
Tiếc công thiếp dỗ đứng
bồng ngồi
Bây giờ chàng ở bạc
Ông trời nào để chàng
yên.
Đèn nào cao bằng đèn
Châu Đốc
Gió nào độc bằng gió Gò
Công
Thổi ngọn đông phong lạc
vợ xa chồng
Đêm nằm nghĩ lại nước
hồng tuôn rơi.
Đèn nào cao bằng đèn Sở
thượng
Nghĩa nào trượng bằng
nghĩa phu thê
Em xách gói theo anh
thiên hạ cười chê
Để em trở về nuôi mẹ
trọn bề hiếu trung.
Đêm nằm nghe vạc trở canh
Nghe cơn gió thổi tưởng
anh quay về.
Đêm nằm gối gấm không êm
Gối lụa không mềm bằng
gối tay em.
Đêm nằm nghĩ lại mà coi
Lấy chồng hay chữ như
soi gương vàng.
Đói lòng ăn hột chà là
Để cơm nuôi mẹ mẹ già
yếu răng.
Đốn cây ai nỡ dứt chồi
Đạo chồng nghĩa vợ giận
rồi lại thương.
Đũa so le tại tre bó
lỏng
Em có chồng rồi hư hỏng
tại anh.
Em cầm trái cau vừa lau
vừa róc
Em cầm lá trầu vừa rọc
vừa têm
Để vợ chồng lời thuận
nghĩa êm
Chồng kêu vợ dạ mới thật
là con gái khôn.
Ghe bầu trở lái về đông
Con gái theo chồng bỏ mẹ
ai nuôi
- Mẹ tôi đã có người
nuôi
Tôi theo chú lái cho
xuôi một bề.
Ghen chi ghen lạ ghen
lùng
Mèo đi bắt chuột đụng
mùng cũng ghen.
Gió đẩy gió đưa lược
thưa uốn éo
Anh đưa em về dạy khéo
dạy khôn.
Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con
thơ
Con thơ tay ẳm tay bồng
Tay nào xách nước tay
nào vo cơm.
Gió đưa bụi chuối sau hè
Bụi môn trước cửa ai dè
con hư.
Gió năm non thổi hoài
thổi hủy
Mẹ có chồng chẳng nghĩ
đến con
Chọn ra năm bảy món ngon
Cha ghẻ ăn hết thì con
nhịn thèm.
Hai tay nâng đỡ đèn rồng
Đầu đội chữ hiếu tay
bồng con thơ
Trách ai phân tóc rẽ tơ
Kẻ đi âm phủ người chờ
dương gian.
Khó nghèo một vợ một
chồng
Một miếng cơm tấm mà
lòng thảnh thơi.
Khoai lang chấm muối ăn
bùi
Lấy chồng thầy thuốc thơm
mùi nhân sâm.
Khôn ngoan nhờ đức cha
ông
Làm nên phải nhớ tổ tông
phụng thờ
Đạo làm con chớ hững hờ
Phải đem chữ hiếu phụng
thờ cho nghiêm.
Khuyên chàng đọc sách
ngâm thơ
Dầu hao thiếp rót, đèn
mờ thiếp khêu.
Lạy trời cho cả gió nồm
Cho cha tôi chết tôi ôm
gia tài.
Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công
lao mẹ hiền.
Lang thang một dãy sáu
cô
Cưới cô chín giữa mích
lòng năm cô
Phải chi tôi có lúa bồ
Tôi ra tôi cưới sáu cô
một lần
Cô hai mua tảo bán tần
Cô ba xách nước dưỡng
nuôi mẹ già
Cô tư dọn dẹp trong nhà
Cô năm phân nước pha trà
Cô sáu trải chiếu giăng
mùng
Cô bảy là nghĩa tình
chung với mình
Cô bảy phân hết sự tình
Trai năm thê bảy thiếp
vợ của mình rất đông.
Lòng con thảo như giọt
sương hạt lựu
Công mẫu từ như ngọn núi
Thái Sơn
Có cha có mẹ vẫn hơn
Không cha không mẹ như
đờn đứt dây.
Má ơi đừng đánh con đau
Để con bắt ốc hái rau má
nhờ
Má ơi đừng đánh con hoài
Để con bắt ốc gọt xoài
má ăn.
Má ơi đừng đánh con đau
Để con hát bội làm đào
má coi.
Má ơi đừng gả con gần
Lỡ khi thằng rể chửi
xằng má nghe.
Mặt trời ló mặt rạng
đông ửng hồng
Ra vô chẳng thấy dạng
chồng
Con thơ chiu chit đứa
bồng trên tay
Má nay lệ ứa châu mày
Ru con thương nhớ mấy
lời thuở xưa.
Mẹ cha từng trải cuộc
đời
Sợ hư nên mới lắm lời
dạy con
Phận con thừa thuận kính
dâng
Việc lành đều phải mựa
đừng lãng xao
Ngọc kia được sáng nhờ
trau
Cá kia nhờ thấm muối vào
khỏi ươn
La rầy là dấu yêu thương
Mựa đừng xao lãng mới
nên con người.
Một bộ chén chung lớn
sơn đỏ
Một bộ chén nhỏ sơn vàng
Đền ơn cha mẹ để cho
nàng vu quy.
Một mai thiếp có xa
chàng
Đôi bông thiếp trả cho
chàng thiếp xin.
Ngẫm thay thân phận đàn
bà
Chồng chung không thể ai
chừa cho ai.
Nước ròng bỏ bãi xa cừ
Vợ hư anh để chớ nào từ
mẹ cha .
Nuôi con nên vóc nên
hình
Không nghe cha mẹ con
khờ hư thân.
Phải chi em vác nổi súng
đồng
Ra đi lính thế cho chồng
đôi năm.
Ra đi anh nhớ vợ nhớ con
Ra về thì nhớ nước non
trên rừng.
Ra đường người ta hỏi
cha hay chồng
Nói ra đau đớn trong
lòng
Mắt cái nợ tiền kiếp chứ
không phài chồng tôi.
Rau răm đất cứng dễ bứng
khó trồng
Dù thương cho lắm cũng
chồng người ta.
Rủ nhau xuống bể mò cua
Vợ mang đòn gánh chồng
mang quang giành
Củi than nhem nuốc với
tình
Ghi lời vàng đá xin mình
chớ quên.
Sao hôm mà đợi sao mai
Chồng mà xa vợ hỏi ai
không buồn.
Tàu súp lê một em còn
trông đợi
Tàu súp lê hai em còn
đợi còn chờ
Tàu súp lê ba tàu ra
biển
Hai tay em vịn song sắt
nước mắt nhỏ dòng
Em kêu hỏi chú tài công
Lấy khăn lông em chặm
Đạo vợ chồng ngàn dặm em
không quên.
Tay bưng dưa giá, cá
chiên
Chồng thanh, vợ lịch mãi
nhìn quên ăn.
Thấy anh hay chữ em hỏi
thử đôi lời
Vua cha đạo trọng hay vợ
chồng nặn hơn
- Quân thần cang, phụ tử
cang, phụ thê cang
Tam cang đạo trọng (mà)
đạo vợ chồng anh trọng hơn.
Thiếp than phận thiếp
còn thơ
Lấy chồng xa xứ bơ vơ
một mình.
Thiếu chi rau bậu ăn rau
é
Thiếu chi chồng mà làm
bé người ta.
Thò tay vuốt ngực chung
tình
Nước sôi còn nguội huống
chi mình giận tôi.
Thong ngôn phú lục, bạc
chục em không thèm
Em chỉ muốn thằng chồng
nhậu
Để nó mửa hèm em nuôi
heo.
Thương chồng mang gói
thẳng sông
Má kêu mặc má thương
chồng con theo.
Thương chồng phải lụy vì
chồng
Đắng cay phải chịu mặn
nồng cũng cam.
Thương mẹ con cũng làm
vui
Đi thưa về dạ cho vui vợ
chồng.
- Thương con mẹ cũng dằn
lòng
Miễn con an phận bên chồng
mà thôi.
Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi
Giã gạo cho trắng đặng
nuôi mẹ già
Mẹ già ở tấm lều tranh
Sớm thăm tối viếng mới
đành dạ con.
Trăm năm ai nỡ bỏ ai
Chỉ thêu nên gấm sắc mài
nên kim.
Trăm năm trăm tuổi, may
rủi một chồng
Dù ai thêu phụng vẽ rồng
mặc ai.
Trồng trầu thì phải khai
mương
Làm trai hai vợ phải
thương cho đồng.
Trồng trầu mà lộn dây
tiêu
Con theo hát bội mẹ liều
con hư.
Trời mưa bong bóng phập
phồng
Mẹ đi lấy chồng mẹ bỏ
con thơ
Con thơ như nghé bơ vơ
Mẹ ơi mẹ hỡi bây giờ ở
đâu?
Trồng tre ngã ngọn xuống
mương
Hai dâu về tới má thương
dâu nào
Dâu nào dâu nấy cũng
thương
Dâu cũ tầm thường dâu
mới má thương hơn.
Trời ơi! Sanh giặc làm
chi
Cho chồng tôi phải ra đi
chiến trường.
Vợ một cột chặt dây trầu
Vợ hai cột chặt nỗi sầu
đa đoan
Vợ xấu là vợ của mình
Ngoài vành thúng rách
trong đầy lúa thơm.
Ví dầu cá bống hai mang
Cá trê hai ngạnh tôm
càng sấu râu
Sáu râu lột vỏ bỏ đuôi
Giã gạo cho trắng đặng
nuôi mẹ già
Mẹ già ở túp lều tranh
Sớm thăm tối viếng mới
đành dạ con.
Ví dầu ngày tháng thoi
đưa
Bao năm chinh chiến anh
chưa thấy về
Điểm tô son phấn em thề
đợi anh.
Vì chàng thiếp phải mò
cua
Giá như thân thiếp thì
mua một đồng.
Vịt nằm bờ mía rỉa lông
Cám cảnh thương chồng đi
học đường xa
Xử sao gia đạo an hòa
Chồng kêu vợ dạ mới là
gái ngoan.
4. CÁC MỐI QUAN HỆ KHÁC
Ai ơi gương bể khó hàn
Chỉ đứt khó nối người
ngoan khó tìm.
Ai giàu thì mặc ai giàu
Còn ta ta dắt con trâu
đi cày.
Ai mà phụ nghĩa quên
công
Thì đeo trăm cánh hoa
hồng chẳng thơm.
Ở hiền thời lại gặp lành
Những người nhân đức
trời dành phúc cho.
Áo dài chẳng nệ quần
thưa
Bảy mươi có của cũng vừa
mười lăm.
Ba năm ở với người ngu
Không bằng một tháng
giao du người tài.
Bạn bè là nghĩa tương
thân
Khó khăn thuận lợi ân
cần có nhau
Bạn bè là nghĩa trước
sau
Tuổi thơ cho đến bạc đầu
không phai.
Bậu về nhắn với ông câu
Cá ăn thời giật để lâu
hết mồi.
Bên đây thu thuế nặng nề
Bồng con dắt vợ mới dìa
bên sông.
Cái cò cái vạc cái nông
Sao mầy giậm lúa nhà ông
hỡi cò
Không không tôi đừng bên
bờ
Mẹ con nhà nó đổ thừa
cho tôi.
Cây cao ngã bóng qua rào
Xin cho thấy mặt khỏi
chào cũng vui.
Có duyên lấy được chồng
già
Ăn xôi bỏ cháy, ăn gà bỏ
xương.
Có tiền mua sắm để coi
Có của cho mượn đi đòi
mất công.
Chúa ăn cá bống cá thiều
Phận tôi hạt muối để chiều
khô khan
Cháu mặc áo lác áo đan
Thân tôi miếng giẻ vá
ngang vá chằng.
Còn nhà còn nước còn non
Còn anh bán rượu thì còn
say sưa
Có ai lên võng đừng đưa
Đưa con đừng hát thì
chừa rượu ra.
Cơm cha cơm nẹ đã từng
Con đi làm mướn kiếm
lưng cơm người
Cơm người khổ lắm ai ơi
Chả như cơm mẹ vừa ngồi
vừa ăn.
Chén vàng anh khảm xà cừ
Để lâu không uống cũng
như chén sành.
Chê tôm lại phải ăn tôm
Chê rau muống héo lại ôm
dưa già.
Chẳng thiêng ai gọi là
thần
Lối ngang đường tắt
chẳng gần ai đi.
Chị kia bới tóc đuôi gà
Nắm đuôi chị lại hỏi nhà
chị đâu
Nhà tôi ở dưới đám dâu
ở bên đám đậu đầu cầu
ngó qua
ngó qua đám bắp trổ hoa
Đám dưa trổ nụ, đám cà
trổ bông.
Chiều chiều bắt két nhổ
lông
Két kêu bớ chị sao mày
bất nhơn.
Chiều chiều mượn ngựa đi
chơi
Mượn ba chú lính đưa cô
tôi về
Đưa về tới chợ Tầm Vu
Mua một cây dù che nắng
che mưa.
Chuột chê lúa lép không
ăn
Vịt chê nhà dột ra nằm
bờ ao.
Chữ rằng họa phúc vô đơn
Tìm giàu thì dễ tìm khôn
khó tìm.
Đắng cay cũng thể ruột
rà
Ngọt ngào cho lắm cũng
là người dưng.
Đấng trượng phu đừng thù
mới đáng
Đấng anh hùng đừng oán
mới hay.
Đi qua đi lại hàng dừa
Lấy ai có chửa đổ thừa
cho tôi.
Đố ai đốt cháy ao bèo
Để tôi gánh gạch Đông
Triều về xây.
Đố ai đếm hết sao trời
Đố ai biết được tình đời
cạn sâu.
Đố ai lặn xuống vực sâu
Mà đo miệng cá uốn câu
cho vừa.
Đời ở đợ ít no nhiều đói
Thiếu bạc tiền dư giả
đòn roi.
Gánh nghèo lên đổ trên
non
Cong lưng chạy xuống
nghèo còn chạy theo.
Gáo vàng mà múc giếng
Tây
Không ngoan cho lắm tớ
thầy người ta.
Giàu sang lắm bạn nhiều
bè
Đến khi hoạn nạn chẳng
hề thấy ai.
Giàu nghèo ta chẳng có
lo
Cầu gãy còn đò, giếng
cạn còn sông.
Giàu thì nói một khôn
mười
Khó thì nói chẳng được
lời nào khôn.
Gió đẩy gió đưa cho vừa
lòng bạn
Song Ngân Hà chỗ cạn chỗ
sâu.
Gió đưa cây bắp về chiều
Rồi đây cái ảng gia siêu
tan tành
Bốn mùa mặt nước long
lanh
Nhật nguyệt càng tỏ và
vinh quang càng gần.
Gió đưa ông Đội về dinh
Bà Đội tang tình xách
nón chạy theo.
Hà tiện để tiền cho vay
Đến khi xuống vực khoanh
tay ngồi buồn.
Hoa thơm ai chẳng nâng
niu
Người khôn ai chẳng kính
yêu mọi bề.
Hoa thơm thơm lạ thơm
lùng
Thơm cây thơm rễ người
trồng cũng thơm.
Kẻ có tình ngồi rình
trong bụi
Kẻ vô tình lủi thủi mà
đi.
Khôn ngoan cũng thể đàn
bà
Dẫu rằng vụng dại cũng
là đàn ông.
Khó mà biết lẽ biết lời
Biết ăn biết ở, hơn
người giàu sang.
Khi giàu thì chẳng đỡ ai
Đến khi hoạn nạn chẳng
ai đỡ mình.
Kim vàng nỡ uốn câu
Người khôn ai nỡ nói câu
nặng lời.
Khổ như tui đây mới ra
thân khổ
Lên non đốn củi đụng chỗ
đốn rồi
Xuống sông gánh nước gặp
chỗ nước bồi khe khô.
Làm quan chẳng xét cho
dân
Không tin ngài xuống,
ngài mần, ngài coi.
Người đời hữu tử, hữu
danh
Sống lo xứng phận thác
dành tiếng thơm.
Người đời phải xét thiệt
hơn
Đừng nghe tiếng sáo
tiếng đàn mà sai.
Người giàu ta chẳng có
tham
Khó thì ta liệu ta làm
ta ăn.
Người ta có cửa có nhà
Thân tôi trôi nổi bớ bà
ấy ơi.
Người ta sống cảnh giàu
sang
Riêng tôi sống cảnh cơ
hàn mà thôi.
Phượng hoàng đậu cánh
cây đa
Sa cơ thất thế lủi theo
bầy gà
May sao mưa thuận gió
hòa
Thay lông đổi cánh cũng
ra phượng hoàng.
Rau dừa chấm với mắm kho
Việc đời nó tới thì lo
làm gì.
Rượu lạt uống lắm cũng
say
Người khôn nói lắm dù
hay cũng nhàm.
Thà rằng ăn bát cơm rau
Còn hơn cá thịt nói nhau
nặng lời.
Thà rằng ăn nửa quả hồng
Còn hơn ăn cả chùm sung
chát lì.
Thân hỡi thân thân sao
lận đận
Mình trách mình thời vận
đảo điên.
Thân khô tưới nước cũng
khô
Phận nghèo đi tới xứ mô
cũng nghèo.
Thế gian lắm kẻ mơ màng
Thấy hòn son thắm ngỡ
vàng trời cho.
Thương thay thân phận
con tằm
Kiếm ăn được mấy mà ì
tìm môi.
Thương thay hạc lạnh
đường mây
Chim bay mỏi cánh biết
ngày nào thôi.
Thương thay con quốc
giữa trời
Dẫu kêu ra máu có người
nào nghe.
Thường thường phải đạo
thì thôi
Đừng căng mà đứt, đừng lơi
mà chùng.
Thiếu cơm thiếu áo chẳng
màng
Thiếu tình đoàn kết, xóm
làng không vui.
Tiếng vang không ít thì
nhiều
Mấy ai mà dám đặt điều
cho ai.
Tốt cây thì mới tốt cành
Gương trong mới rõ bóng
hình trong gương.
Trâu ta ăn cỏ đồng ta
Chừng nào hết cỏ mới ra
đồng người.
Trời mưa cho lúa thêm
bông
Cho nước thêm cá, cho
sông thêm đò.
Ví dầu cậu mợ giàu sang
Cho con ở mướn cầm cày
một năm
Chưa gì nghe tiếng nghe
tăm
Trâu lên bờ mạ mợ hăm
đánh đòn
Lúa mợ đầy lãnh đầy kho
Mợ cho ăn ít chẳng cho
ăn nhiều
Đầu hôm mợ nấu chè khoai
Bắt tôi xay lúa canh hai
mới nằm
Gà ơi mày gáy cho đầm
Cho chủ mày nằm tao nghỉ
chút hơi.
Xa quê có lúc quay về
Mà sao nghèo mãi chưa hề
buông tha.
B . GIAI ĐOẠN III
I . THƠ
1 . Thăm nhà bà
Đến thăm bà
Bà đi vắng
Có đàn gà
Chơi ngoài nắng
Cháu đứng ngắm
Đàn gà con
Rồi gọi luôn
Bập, bập, bập
Chúng lật đật
Chạy thật nhanh
Xúm vòng quanh
Kêu: “ Chiếp,chiếp”
Gà mãi miết
Nhặt thóc vàng
Cháu nhẹ nhàng
Lùa vào mát.
( Như mao)
Đến thăm bà
Bà đi vắng
Có đàn gà
Chơi ngoài nắng
Cháu đứng ngắm
Đàn gà con
Rồi gọi luôn
Bập, bập, bập
Chúng lật đật
Chạy thật nhanh
Xúm vòng quanh
Kêu: “ Chiếp,chiếp”
Gà mãi miết
Nhặt thóc vàng
Cháu nhẹ nhàng
Lùa vào mát.
( Như mao)
2 . Bác Hồ của em
Khi em ra đời
Đã không còn Bác
Chỉ còn tiếng hát
Chỉ còn lời ca
Chỉ còn câu chuyện
Chỉ còn bài thơ
Mà em vẫn thấy Bác sao rất gần
Năm điều Bác dạy mãi còn vang ngân
Khi em ra đời
Đã không còn Bác
Chỉ còn tiếng hát
Chỉ còn lời ca
Chỉ còn câu chuyện
Chỉ còn bài thơ
Mà em vẫn thấy Bác sao rất gần
Năm điều Bác dạy mãi còn vang ngân
3 . Chim chích bông
Chim
chích bông
Bé tẹo
teo
Rất hay
chèo
Từ cành
na
Ra cành
bưởi
Qua bụi
chuối
Em vẫy
gọi
Chích
bông ơi!
Luống
rau xanh
Sâu
đang phá
Chim xuống
nhé
Có
thích không?
Chú
chích bông
Liền sà
xuống
Bắt sâu
cùng
Và luôn
miệng
Thích...
thích....thích!
( Nguyễn Viết Bình)
4. Em yêu nhà em
Chẳng đâu bằng chính nhà em
Có đàn chim sẻ bên thềm líu lo
Có nàng gà mái hoa mơ
Cục ta, cục tác khi vừa đẻ xong
Có bà chuối mật lưng ong.
Có ông ngô bắp rau hồng như tơ
Có ao muống với cá cờ
Em là chị Tấm đợi chờ bống lên
Có đầm ngào ngạt hoa sen
Ếch con học nhạc, dế mèn ngâm thơ
Dù đi xa thật là xa
Chẳng đâu vui được như nhà của em
(Đoàn Thị Lam Luyến )
II. TRUYỆN
1 .Mèo lại hoàn mèo
Xưa
có một ông nuôi một con mèo, nghĩ rằng con mèo của mình khôn ngoan, tài giỏi
không có ai hơn nữa, mới đặt tên là “Trời”.
Một hôm có người bạn đến chơi. Thấy chủ nhà gọi mèo là “Trời”, người bạn ngạc nhiên hỏi:
- Sao ông lại dám gọi nó là con “Trời”.?
Chủ nhà đáp:
- Con mèo của tôi quý hóa có một, gọi nó là mèo nói không được. Phải gọi nó là “Con Trời” mới xứng đáng, vì không ai hơn được trời.
Người bạn nói:
- Thế mây chẳng che được mặt trời còn gì? Chủ nhà bảo.
- Thế thì tôi gọi nó là...con “Mây”!.
Người bạn lại nói:
- Thế nhưng gió lại đuổi được mây?
Chủ nhà lại bảo:
- Thế thì tôi gọi nó là con “Gió”!.
- Thế nhưng bức tường lại cản được gió?
- Thế thì tôi gọi nó là con “Tường”!.
- Thế nhưng chuột lại khoét được tường?
- Thế thì tôi gọi nó là con “Chuột”.
- Thế nhưng mèo lại bắt được chuột?
Chủ nhà nghĩ một lát rồi bảo:
- Thế thì tôi gọi nó là con “mèo” vậy.
Người bạn vỗ tay cười và nói:
Ôi thế thì “mèo lại hoàn mèo” rồi!.
Một hôm có người bạn đến chơi. Thấy chủ nhà gọi mèo là “Trời”, người bạn ngạc nhiên hỏi:
- Sao ông lại dám gọi nó là con “Trời”.?
Chủ nhà đáp:
- Con mèo của tôi quý hóa có một, gọi nó là mèo nói không được. Phải gọi nó là “Con Trời” mới xứng đáng, vì không ai hơn được trời.
Người bạn nói:
- Thế mây chẳng che được mặt trời còn gì? Chủ nhà bảo.
- Thế thì tôi gọi nó là...con “Mây”!.
Người bạn lại nói:
- Thế nhưng gió lại đuổi được mây?
Chủ nhà lại bảo:
- Thế thì tôi gọi nó là con “Gió”!.
- Thế nhưng bức tường lại cản được gió?
- Thế thì tôi gọi nó là con “Tường”!.
- Thế nhưng chuột lại khoét được tường?
- Thế thì tôi gọi nó là con “Chuột”.
- Thế nhưng mèo lại bắt được chuột?
Chủ nhà nghĩ một lát rồi bảo:
- Thế thì tôi gọi nó là con “mèo” vậy.
Người bạn vỗ tay cười và nói:
Ôi thế thì “mèo lại hoàn mèo” rồi!.
(Theo Truyện ngụ ngôn Việt Nam)
2 . Cây táo thần
Ngày xửa ngày xưa đã
lâu lắm rồi, có một cây táo thần mọc trong vườn ở ngoại ô thành phố.
Hàng ngày sau giờ học, bọn trẻ trong phố thừong đến chơi ở đó và nó đùa xung quanh cây táo. Khi cây táo ra quả cũng là lúc bọn trẻ thích đến nhất. Lúc đó cây táo cũng vui nhất vì cây táo thích ngắm nhìn bọn trẻ bứt những quả táo ngon trên cành cùng chia nhau ăn.
Một hôm có một cậu bé không biết từ dâu đến, cậu bé cau mày nói với bọn trẻ:
"Này, chúng mày, vườn này là vườn của tao đã mua từ trước. Cây táo này của tao, chúng mày đi chỗ khác mà chơi. Cấm không được đến đây nữa". Nghe vậy bọn trẻ rất buồn tất cả cúi đầu lặng lẽ ra về, chỉ còn cậu bè hống hách ở lại.
Cây táo biết cả mọi chuyện và bằng phép lạ nó làm cho cậu bé ngủ thiếp đi dưới gốc cây. Cậu bé mơ thấy trên thân cây táo có một cái hốc rất lớn. Cậu bé cảm thấy bụng đói cồn cào. Nó trèo lên cây và định bứt táo để ăn. Nhưng mỗi khi tay cậu bé sắp chạm vào quả táo thì cành táo lại quay đi chỗ khác và một quả táo lại rơi vào trong cái hóc to tướng ở thân cây. Cứ như vậy cho đến khi tất cả táo trên cành cây rơi hết và hốc chỉ con
trơ lại một quả trên cành.
Cậu bé đành ngồi dưới gốc cây và khóc. Lúc dó cây táo mới cất tiếng hỏi: "Tại sao cháu khóc"? Cậu bé mếu máo trả lời: "Ông ích kỷ quá, ông ăn hết cả táo, ông không cho cháu một quả nào. Cháu đói lắm rồi ông ạ". Cây táo cười và nói: Cháu có nhớ là cháu đă đuổi hết tất cả các bạn không? Các bạn cũng muốn ăn táo của ông nhưng cháu không cho các bạn một quả nào, như vậy cháu có ích kỷ không?
Cậu bé nhớ lại lúc các bạn buồn rầu ra về, cậu bé thấy ân hận vô cùng. Cậu bé ngước mắt nhìn cây táo và nói: "Vâng, cháu rất ích kỷ" Cây táo cất tiếng cười vang rung cả cây đến nỗi làm táo rơi xuống đất. Một quả táo rơi trúng đầu cậu bé làm cậu bé giật mình tỉnh dậy. Cậu bé ngơ ngác nhìn xung quanh cậu bé thấy mình vẫn đang nằm dưới gốc cây. Cái hố to tướng trên cây táo biến mất. Cây táo vẫn đứng yên lặng và trên cây quả vẫn sai trĩu trịt.
Cậu bé chồm dậy chạy đi gọi các bạn. Nhìn thấy các bạn đang chơi trên đường phố, cậu bé gọi: "Này các bạn ơi, quay lại chơi dưới gốc cây táo đi. Mình xin lỗi các bạn vì đã đuổi các bạn đi". Thế là tất cả cùng nhau chạy ra vườn. Cậu bé tự mình trèo lên cây bứt những quả chín vàng ném xuống cho các bạn. Cây táo vẫn im lặng lắng nghe tiếng cười, đùa vui vẻ của bọn trẻ bởi vì cây táo biết rằng điều hạnh phúc nhất trên trái đất này là cùng nhau chia sẻ với người khác.
III . ĐỒNG DAO
Hàng ngày sau giờ học, bọn trẻ trong phố thừong đến chơi ở đó và nó đùa xung quanh cây táo. Khi cây táo ra quả cũng là lúc bọn trẻ thích đến nhất. Lúc đó cây táo cũng vui nhất vì cây táo thích ngắm nhìn bọn trẻ bứt những quả táo ngon trên cành cùng chia nhau ăn.
Một hôm có một cậu bé không biết từ dâu đến, cậu bé cau mày nói với bọn trẻ:
"Này, chúng mày, vườn này là vườn của tao đã mua từ trước. Cây táo này của tao, chúng mày đi chỗ khác mà chơi. Cấm không được đến đây nữa". Nghe vậy bọn trẻ rất buồn tất cả cúi đầu lặng lẽ ra về, chỉ còn cậu bè hống hách ở lại.
Cây táo biết cả mọi chuyện và bằng phép lạ nó làm cho cậu bé ngủ thiếp đi dưới gốc cây. Cậu bé mơ thấy trên thân cây táo có một cái hốc rất lớn. Cậu bé cảm thấy bụng đói cồn cào. Nó trèo lên cây và định bứt táo để ăn. Nhưng mỗi khi tay cậu bé sắp chạm vào quả táo thì cành táo lại quay đi chỗ khác và một quả táo lại rơi vào trong cái hóc to tướng ở thân cây. Cứ như vậy cho đến khi tất cả táo trên cành cây rơi hết và hốc chỉ con
trơ lại một quả trên cành.
Cậu bé đành ngồi dưới gốc cây và khóc. Lúc dó cây táo mới cất tiếng hỏi: "Tại sao cháu khóc"? Cậu bé mếu máo trả lời: "Ông ích kỷ quá, ông ăn hết cả táo, ông không cho cháu một quả nào. Cháu đói lắm rồi ông ạ". Cây táo cười và nói: Cháu có nhớ là cháu đă đuổi hết tất cả các bạn không? Các bạn cũng muốn ăn táo của ông nhưng cháu không cho các bạn một quả nào, như vậy cháu có ích kỷ không?
Cậu bé nhớ lại lúc các bạn buồn rầu ra về, cậu bé thấy ân hận vô cùng. Cậu bé ngước mắt nhìn cây táo và nói: "Vâng, cháu rất ích kỷ" Cây táo cất tiếng cười vang rung cả cây đến nỗi làm táo rơi xuống đất. Một quả táo rơi trúng đầu cậu bé làm cậu bé giật mình tỉnh dậy. Cậu bé ngơ ngác nhìn xung quanh cậu bé thấy mình vẫn đang nằm dưới gốc cây. Cái hố to tướng trên cây táo biến mất. Cây táo vẫn đứng yên lặng và trên cây quả vẫn sai trĩu trịt.
Cậu bé chồm dậy chạy đi gọi các bạn. Nhìn thấy các bạn đang chơi trên đường phố, cậu bé gọi: "Này các bạn ơi, quay lại chơi dưới gốc cây táo đi. Mình xin lỗi các bạn vì đã đuổi các bạn đi". Thế là tất cả cùng nhau chạy ra vườn. Cậu bé tự mình trèo lên cây bứt những quả chín vàng ném xuống cho các bạn. Cây táo vẫn im lặng lắng nghe tiếng cười, đùa vui vẻ của bọn trẻ bởi vì cây táo biết rằng điều hạnh phúc nhất trên trái đất này là cùng nhau chia sẻ với người khác.
III . ĐỒNG DAO
1 . Thả đỉa ba ba
Thả đỉa ba ba
Chớ bắt đàn bà
Phải tội đàn ông
Cơm trắng như bông
Gạo tiền như nước
Đổ mắm đổ muối
Đổ chuối hạt tiêu
Đổ niêu nước chè
Đổ phải nhà nào
Nhà nấy phải chịu.
Chớ bắt đàn bà
Phải tội đàn ông
Cơm trắng như bông
Gạo tiền như nước
Đổ mắm đổ muối
Đổ chuối hạt tiêu
Đổ niêu nước chè
Đổ phải nhà nào
Nhà nấy phải chịu.
***
|
v Chuẩn
bị:
+ Dùng than (hoặc phấn) vẽ một "con sông" có hai bờ hai bên. + Dạy trẻ đọc thuộc bài đồng dao Thả đỉa ba ba Chớ bắt đàn bà Phải tội đàn ông Cơm trắng như bông Gạo rồng như suối(gạo tiền như nước) Đổ mắm đổ muối Đổ chuối hạt tiêu Đổ niêu nước chè Đổ phải nhà nào Nhà đó phải chịu v Cách chơi: Trẻ chơi từng nhóm hoặc cả lớp. Tất cả các thành viên tham gia trò chơi đứng thành vòng tròn giữa sân. Một em thủ lĩnh (người đề xướng ra cuộc chơi ) chọn 1 bạn làm "đỉa". Sau khi chọn xong, cả nhóm cùng đọc bài đồng dao "thả đỉa ba ba", người làm đỉa đi xung quanh vòng tròn, cứ mỗi tiếng người làm đỉa lại lấy tay chỉ vào một bạn, bắt đầu tiếng thứ nhất chỉ vào mình, tiếng thứ hai người kế tiếp, rồi lần lượt đến người thứ 2, thứ 3... nếu chữ đỉa cuối cùng rơi vào bạn nào thì bạn đó phải đứng lại "sông" làm đỉa, còn những em khác chạy nhanh lên "hai bờ sông", nếu người nào chậm chân bị "đỉa" bám ở dưới "sông" thì phải xuống "sông" làm đỉa, còn người làm "đỉa" lại được lên bờ. (Cứ như thế trò chơi lại tiếp tục). |
2 . Mau mau tỉnh dậy
Tiếng con chim ri
Gọi dì, gọi cậu
Tiếng con sáo sậu
Gọi cậu, gọi cô
Tiếng con cồ cồ
Gọi cô, gọi chú
Tiếng con tu hú
Gọi chú, gọi dì
Mau mau tỉnh dậy
Mà đi ra đồng
***
Tiếng con chim ri
Gọi dì, gọi cậu Tiếng con sáo sậu Gọi cậu, gọi cô Tiếng con cồ cồ Gọi cô, gọi chú Tiếng con tu hú Gọi chú, gọi dì Mau mau tỉnh dậy Mà đi ra đồng Chim gọi chúng mình Dậy mau đi học |
3 . Dích dích dắc dắc
Dích dích dắc dắc
Khung cửa mắc vô Xâu go từng sợi Chân mẹ đạp vội Chân mẹ đạp vàng Mặt vải mịn màng Gánh ì gánh nặng Đến mai trời nắng Đem ra mà phơi Đến mốt trời đẹp Đem ra may áo Dích dích dắc dắc. |
IV . CA DAO
1 .
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
2 .
Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ
Bông sen dành để lễ chùa
Bác Hồ mãi mãi tôn thờ trong tâm
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ
Bông sen dành để lễ chùa
Bác Hồ mãi mãi tôn thờ trong tâm
MẪU GIÁO LỚN
A . GIAI ĐOẠN I
I . THƠ.
1 . Làm anh
Làm anh khó đấy
Phải đâu chyện đùa
Với em gái bé
Phải người lớn cơ.
Khi em bé khóc
Anh phải dỗ dành
Nếu em bé ngã
Anh nâng dịu dàng
Mẹ cho quà bánh
Chia em phần hơn
Có đồ chơi đẹp
Cũng nhường em luôn.
Làm anh thật khó
Nhưng mà thật vui
Ai yêu em bé
Thì làm được thôi.
Phải đâu chyện đùa
Với em gái bé
Phải người lớn cơ.
Khi em bé khóc
Anh phải dỗ dành
Nếu em bé ngã
Anh nâng dịu dàng
Mẹ cho quà bánh
Chia em phần hơn
Có đồ chơi đẹp
Cũng nhường em luôn.
Làm anh thật khó
Nhưng mà thật vui
Ai yêu em bé
Thì làm được thôi.
2 . Giữa vòng gió thơm
Này chú gà nâu
Cải nhau gì thế
Này chị vịt bầu
Chớ gào ầm ĩ
Bà tớ ốm rồi
Cánh màn khép rủ
Hãy yên lặng nào
Cho bà tớ ngủ
Bàn tay nhỏ nhắn
Phe phẩy quạt nan
Đều đều ngọn gió
Rung rinh góc màn
Bà ơi hãy ngủ
Có cháu ngồi bên
Căn nhà vắng vẻ
Khu vườn lặng im
Hương bưởi hương cau
Lẩn vào tay quạt
Cho bà nằm mát
Giữa vòng gió thơm
Cải nhau gì thế
Này chị vịt bầu
Chớ gào ầm ĩ
Bà tớ ốm rồi
Cánh màn khép rủ
Hãy yên lặng nào
Cho bà tớ ngủ
Bàn tay nhỏ nhắn
Phe phẩy quạt nan
Đều đều ngọn gió
Rung rinh góc màn
Bà ơi hãy ngủ
Có cháu ngồi bên
Căn nhà vắng vẻ
Khu vườn lặng im
Hương bưởi hương cau
Lẩn vào tay quạt
Cho bà nằm mát
Giữa vòng gió thơm
3. Trăng ơi... từ đâu đến?
Trăng ơi... từ
đâu đến?
Hay từ cánh rừng xa
Trăng hồng như quả chín
Lửng lơ lên trước nhà
Trăng ơi... từ đâu đến?
Hay biển xanh diệu kỳ
Trăng tròn như mắt cá
Chẳng bao giờ chớp mi
Trăng ơi... từ đâu đến?
Hay từ một sân chơi
Trăng bay như quả bóng
Đứa nào đá lên trời
Trăng ơi... từ đâu đến?
Hay từ lời mẹ ru
Thương Cuội không được học
Hú gọi trâu đến giờ!
Trăng ơi... từ đâu đến?
Hay từ đường hành quân
Trăng soi chú bộ đội
Và soi vàng góc sân
Trăng ơi... từ đâu đến?
Trăng đi khắp mọi miền
Trăng ơi có nơi nào
Sáng hơn đất nước em...
Hay từ cánh rừng xa
Trăng hồng như quả chín
Lửng lơ lên trước nhà
Trăng ơi... từ đâu đến?
Hay biển xanh diệu kỳ
Trăng tròn như mắt cá
Chẳng bao giờ chớp mi
Trăng ơi... từ đâu đến?
Hay từ một sân chơi
Trăng bay như quả bóng
Đứa nào đá lên trời
Trăng ơi... từ đâu đến?
Hay từ lời mẹ ru
Thương Cuội không được học
Hú gọi trâu đến giờ!
Trăng ơi... từ đâu đến?
Hay từ đường hành quân
Trăng soi chú bộ đội
Và soi vàng góc sân
Trăng ơi... từ đâu đến?
Trăng đi khắp mọi miền
Trăng ơi có nơi nào
Sáng hơn đất nước em...
1968
( Trần Đăng Khoa)
4 . Hạt gạo làng ta
Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa
Của sông Kinh Thầy
Có hương sen thơm
Trong hồ nước đầy
Có lời mẹ hát
Ngọt bùi đắng cay...
Hạt gạo làng ta
Có bão tháng bảy
Có mưa tháng ba
Giọt mồ hôi sa
Những trưa tháng sáu
Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy...
Hạt gạo làng ta
Những năm bom Mỹ
Trút trên mái nhà
Những năm cây súng
Theo người đi xa
Những năm băng đạn
Vàng như lúa đồng
Bát cơm mùa gặt
Thơm hào giao thông...
Hạt gạo làng ta
Có công các bạn
Sớm nào chống hạn
Vục mẻ miệng gàu
Trưa nào bắt sâu
Lúa cao rát mặt
Chiều nào gánh phân
Quang trành quết đất
Hạt gạo làng ta
Gửi ra tiền tuyến
Gửi về phương xa
Em vui em hát
Hạt vàng làng ta...
Có vị phù sa
Của sông Kinh Thầy
Có hương sen thơm
Trong hồ nước đầy
Có lời mẹ hát
Ngọt bùi đắng cay...
Hạt gạo làng ta
Có bão tháng bảy
Có mưa tháng ba
Giọt mồ hôi sa
Những trưa tháng sáu
Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy...
Hạt gạo làng ta
Những năm bom Mỹ
Trút trên mái nhà
Những năm cây súng
Theo người đi xa
Những năm băng đạn
Vàng như lúa đồng
Bát cơm mùa gặt
Thơm hào giao thông...
Hạt gạo làng ta
Có công các bạn
Sớm nào chống hạn
Vục mẻ miệng gàu
Trưa nào bắt sâu
Lúa cao rát mặt
Chiều nào gánh phân
Quang trành quết đất
Hạt gạo làng ta
Gửi ra tiền tuyến
Gửi về phương xa
Em vui em hát
Hạt vàng làng ta...
1969
(TRần
Đăng Khoa)
II . TRUYỆN
1 . Ba cô gái
Ngày xưa, có một người đàn bà nghèo sinh được ba cô con gái. Bà rất yêu thương các con, bà lo cho các con từng li từng tí. Nhà nghèo, bà phải làm lụng vất vả để nuôi con nhưng bà không hề phàn nàn.
Được mẹ yêu thương chăm sóc, ba cô gái lớn nhanh như thổi. Cả ba đều đẹp như trăng rằm. Thế rồi lần lượt hết cô này đến cô khác đi lấy chồng, bà mẹ ở nhà một mình.
Năm tháng trôi qua, bà mẹ tuổi mỗi ngày một già, sức mỗi ngày một yếu. Một hôm bà thấy trong người mệt mỏi, bà biết mình không sống được bao lâu nữa, bà nhớ các con nhưng cả ba cô gái đều ở xa quá nên bà không thể đến thăm các con được. Bà liền viết cho mỗi cô con gái một bức thư báo tin bà bị ốm và nhắn các cô về thăm. Bà nhờ Sóc con đưa thư cho ba cô gái, bà dặn Sóc:
- Sóc khôn ngoan, Sóc hãy nói với các con ta là ta đang ốm và báo chúng về ngay thăm ta, Sóc nhé!
Sóc con vâng lời mang thư đi. Sóc đi ròng rã một ngày một đêm đến nhà cô chị cả, cô chị cả đang cọ chậu. Sóc con đưa thư cho cô và nói:
- Chị cả ơi! Mẹ chị đang ốm đấy, mẹ chị muốn gặp chị. Chị hãy về ngay cho mẹ chị gặp.
Nghe Sóc nói, cô cả đáp:
- Thật à Sóc? Mẹ chị đang ốm đấy à? Ôi! Chị buồn quá! Chị thương mẹ chị quá! Chị cũng muốn về thăm mẹ chị ngay, nhưng chị còn phải cọ cho xong mấy cái chậu này đã.
Nghe chị cả nói, Sóc con giận dữ:
- Thương mẹ, thương mẹ mà lại còn cọ chậu đã rồi mới đi thăm mẹ. Thôi cứ ở nhà mà cọ chậu.
Ngay lúc đó cô gái ngã lăn ra đất, biến thành một con rùa to bò ra khỏi nhà đi mãi.
Sóc con lại đi đến nhà cô gái thứ hai. Phải mất ròng rã một ngày, một đêm nữa thì Sóc đến được nhà cô hai. Cô hai đang xe chỉ. Sóc con đưa thư rồi nói với cô hai:
- Chị hai ơi! Mẹ chị đang ốm đấy, mẹ chị muốn gặp chị. Chị hãy đến gặp mẹ chị đi.
Nghe Sóc con nói, cô hai đáp:
- Thật ư Sóc? Mẹ chị đang ốm à? Ôi! Chị thương mẹ chị quá! Chị muốn về thăm mẹ yêu quý của chị ngay, nhưng chị còn bận xe cho xong chỗ chỉ này đã.
Nghe cô hai nói, Sóc con giận dữ:
- Thương mẹ, thương mẹ mà lại còn để xe chỉ đã rồi mới đi thăm mẹ. Thôi được! Nếu thế thì cứ ở nhà mà xe chỉ suốt đời.
Sóc con vừa nói xong thì cô hai biến thành con nhện, suốt đời giăng chỉ.
Sóc con lại đi đến nhà cô gái út. Cô đang nhào bột. Sóc con đưa thư cho cô út. Đọc thư xong cô hốt hoảng, tất tả đi thăm mẹ ngay.
Thấy cô giá út thật tình thương mẹ, Sóc con âu yếm nói:
- Chị út ơi! Chị là người con gái hiếu thảo. Mọi người sẽ thương yêu chị, đời chị sẽ vui vẻ và hạnh phúc.
Quả nhiên, cô gái út sống rất lâu. Mọi người ai ai cũng thương yêu, quý mến cô. Còn các con cô thì người nào cũng quý mến cô
Ở một nhà kia có hai anh em thỏ xám sống cùng mẹ. Bố
đi làm việc xa nên cậu nào cũng tỏ ra là đứa con biết thương mẹ nhất và đáng
khen nhiều nhất. Thỏ anh biết mình lớn hơn nên lúc nào cũng nhường nhịn em.
Song thỏ em thì ngược lại, thỏ em thích mình ngoan hơn anh, được mẹ khen mình
nhiều hơn anh. Biết được chuyện đó, một hôm thỏ mẹ bảo hai anh em:
- Buổi nay các con được nghỉ học. Thỏ anh lên rừng hái cho mẹ mười chiếc nấm hương, thỏ em thì ra đồng cỏ bứt cho mẹ mười bông hoa đồng tiền thật đẹp. Đường hơi xa, các con đi phải cẩn thận đấy nhé, đừng có rong chơi, la cà ở đâu đấy.
Hai anh em vâng lời, hăng hái đi ngay, thỏ em hăm hở chạy một mạch ra đồng cỏ. Cậu ta mải miết đến nỗi không nhìn ngắm gì, không để ý đến việc gì ở xung quanh. Tới nơi, thỏ em chưa vội hái ngay những bông hoa vừa trông thấy. Cậu ta đi vòng một lượt, chọn khóm đẹp nhất, bông rực rỡ nhất mới bứt mang về. Ra khỏi cánh đồng, thỏ em chạy một hơi ào vào nhà ríu rít:
- Mẹ ơi! Mẹ ơi! Con mang được hoa đẹp về rồi đây này! Mẹ khen con đi!
Thỏ mẹ đón lấy bó hoa, xuýt xoa:
- Hoa đẹp lắm! Con của mẹ ngoan quá!
Thỏ em hớn hở:
- Con không la cà một tí nào ở dọc đường đâu đấy mẹ ạ!
Thỏ mẹ nhìn con âu yếm:
- Thế trên đường đi, con có gặp ai, có thấy gì không con?
Thỏ con nhanh nhẩu:
- Có, có mẹ ạ. Con thấy sóc, em bé con nhà bác sóc vàng, đứng khóc bên gốc ổi, em ý hư nhỉ mẹ nhỉ?
- Thế con có hỏi vì sao em khóc không con?
- Không mẹ ạ. Con sợ mẹ ở nhà mong.
- Thế còn đến lúc trở về thì sao?
- Lúc về á! Lúc về con gặp nhím. Nhím cứ đòi xin một bông hoa của con ý.
- Thế con có cho nhím không?
- Không đâu! Con không cho đâu mẹ ạ. Con hái đúng mười bông mang về cho mẹ thôi.
Thỏ mẹ nghe xong không hỏi gì thêm.
Hai mẹ con chờ rất lâu mới thấy thỏ anh về. Chiếc giỏ đẹp đeo bên sườn thỏ anh đầy những nấm hương và mộc nhĩ. Thỏ anh vừa chào mẹ, vừa bốc từ trong túi áo ra từng nắm hạt dẻ đưa cho thỏ em.
- Em thích ăn hạt dẻ, anh mang về cho đây này.
Thỏ mẹ hỏi thỏ anh:
- Sao con hái nhiều thế?
Thỏ anh tươi cười:
- Cũng một công đi, con hái nhiều để dành lần sau có cần đến, mẹ đỡ phải vào rừng.
Thỏ mẹ lại hỏi:
- Sao con đi lâu thế hả con?
Thỏ anh thưa:
- Thưa mẹ, trên đường về con còn phải đợi cô gà hoa mơ.
- Thế cô gà hoa mơ làm sao hả con?
- Dạ, cô gà hoa mơ dẫn đàn con đi ăn bị lạc mất một đứa. Cô tìm nháo nhác cả lên. Con phải dừng lại để giúp cô tìm cậu gà nhiếp bị lạc. Tìm thấy rồi, con lại vừa đi vừa đợi cô dắt lũ trẻ cùng về, kẻo lại bị lạc lần nữa. Vì vậy, con đã về chậm mẹ ạ!
Nghe thỏ anh nói xong, thỏ mẹ mỉm cười gật đầu, gọi cả hai anh em đến và nói:
- Các con của mẹ, các con rất đáng khen vì đã biết vâng lời mẹ. Nhưng thỏ anh đáng khen nhiều hơn. Thỏ em luôn luôn nghĩ đến mẹ là đúng rồi. Song thỏ anh ngoài mẹ ra còn biết nghĩ đến người khác nữa, còn biết hái nấm này, mộc nhĩ này, và mang quà cho em, giúp gà mẹ lúc khó khăn. Thỏ em ạ, con hãy làm những việc tốt không phải để được khen. Và trước hết là vì niềm vui được làm những công việc giúp ích cho người khác con nhé.
Thỏ em hiểu ra, bẽn lẽn nói:
- Thưa mẹ,vâng ạ!
- Buổi nay các con được nghỉ học. Thỏ anh lên rừng hái cho mẹ mười chiếc nấm hương, thỏ em thì ra đồng cỏ bứt cho mẹ mười bông hoa đồng tiền thật đẹp. Đường hơi xa, các con đi phải cẩn thận đấy nhé, đừng có rong chơi, la cà ở đâu đấy.
Hai anh em vâng lời, hăng hái đi ngay, thỏ em hăm hở chạy một mạch ra đồng cỏ. Cậu ta mải miết đến nỗi không nhìn ngắm gì, không để ý đến việc gì ở xung quanh. Tới nơi, thỏ em chưa vội hái ngay những bông hoa vừa trông thấy. Cậu ta đi vòng một lượt, chọn khóm đẹp nhất, bông rực rỡ nhất mới bứt mang về. Ra khỏi cánh đồng, thỏ em chạy một hơi ào vào nhà ríu rít:
- Mẹ ơi! Mẹ ơi! Con mang được hoa đẹp về rồi đây này! Mẹ khen con đi!
Thỏ mẹ đón lấy bó hoa, xuýt xoa:
- Hoa đẹp lắm! Con của mẹ ngoan quá!
Thỏ em hớn hở:
- Con không la cà một tí nào ở dọc đường đâu đấy mẹ ạ!
Thỏ mẹ nhìn con âu yếm:
- Thế trên đường đi, con có gặp ai, có thấy gì không con?
Thỏ con nhanh nhẩu:
- Có, có mẹ ạ. Con thấy sóc, em bé con nhà bác sóc vàng, đứng khóc bên gốc ổi, em ý hư nhỉ mẹ nhỉ?
- Thế con có hỏi vì sao em khóc không con?
- Không mẹ ạ. Con sợ mẹ ở nhà mong.
- Thế còn đến lúc trở về thì sao?
- Lúc về á! Lúc về con gặp nhím. Nhím cứ đòi xin một bông hoa của con ý.
- Thế con có cho nhím không?
- Không đâu! Con không cho đâu mẹ ạ. Con hái đúng mười bông mang về cho mẹ thôi.
Thỏ mẹ nghe xong không hỏi gì thêm.
Hai mẹ con chờ rất lâu mới thấy thỏ anh về. Chiếc giỏ đẹp đeo bên sườn thỏ anh đầy những nấm hương và mộc nhĩ. Thỏ anh vừa chào mẹ, vừa bốc từ trong túi áo ra từng nắm hạt dẻ đưa cho thỏ em.
- Em thích ăn hạt dẻ, anh mang về cho đây này.
Thỏ mẹ hỏi thỏ anh:
- Sao con hái nhiều thế?
Thỏ anh tươi cười:
- Cũng một công đi, con hái nhiều để dành lần sau có cần đến, mẹ đỡ phải vào rừng.
Thỏ mẹ lại hỏi:
- Sao con đi lâu thế hả con?
Thỏ anh thưa:
- Thưa mẹ, trên đường về con còn phải đợi cô gà hoa mơ.
- Thế cô gà hoa mơ làm sao hả con?
- Dạ, cô gà hoa mơ dẫn đàn con đi ăn bị lạc mất một đứa. Cô tìm nháo nhác cả lên. Con phải dừng lại để giúp cô tìm cậu gà nhiếp bị lạc. Tìm thấy rồi, con lại vừa đi vừa đợi cô dắt lũ trẻ cùng về, kẻo lại bị lạc lần nữa. Vì vậy, con đã về chậm mẹ ạ!
Nghe thỏ anh nói xong, thỏ mẹ mỉm cười gật đầu, gọi cả hai anh em đến và nói:
- Các con của mẹ, các con rất đáng khen vì đã biết vâng lời mẹ. Nhưng thỏ anh đáng khen nhiều hơn. Thỏ em luôn luôn nghĩ đến mẹ là đúng rồi. Song thỏ anh ngoài mẹ ra còn biết nghĩ đến người khác nữa, còn biết hái nấm này, mộc nhĩ này, và mang quà cho em, giúp gà mẹ lúc khó khăn. Thỏ em ạ, con hãy làm những việc tốt không phải để được khen. Và trước hết là vì niềm vui được làm những công việc giúp ích cho người khác con nhé.
Thỏ em hiểu ra, bẽn lẽn nói:
- Thưa mẹ,vâng ạ!
3 . Chú dê đen
Có một chú Dê Trắng đang đi tới một khu rừng để tìm ăn những chiếc lá non và uống nước suối. Bất chợt, một con Sói ở đâu đi tới trước mặt, nó quát hỏi:
- Dê kia, mày đi đâu?
- Tôi đi tìm lá non để ăn và nước mát để uống.
- Mày có gì ở chân?
- Chân tôi có móng.
- Trên đầu mày có gì?
- Trên đầu tôi có sừng.
Sói hỏi tiếp:
- Bây giờ mày hãy trả lời tao: Tim mày thể nào?
- Tim tôi đang run sợ.
- A! Ha!
Sói cười vang rồi ăn thịt luôn chú Dê Trắng.
Một chú Dê Đen cũng tới khu rừng đê ăn lá non và uống nước suối. Sói đã ngồi sẵn ở đó. Thấy Dê Đen đi qua, nó quát hỏi:
- Dê kia, mày đi đâu?
- Tao đi tìm kẻ nào hay gây sự đây.
- Mày có gì ở chân?
- Chân thép của tao có móng bằng đồng.
- Trên đầu mày có gì?
- Trên đầu tao có đôi sừng bằng kim cương.
Sói lại tiếp.
- Thế bây giờ mày hãy trả lời tao: tim mày thế nào?
- Trái tim thép của tao bảo tao: hãy cắm đôi sừng bằng kim cương của tao vào bụng mày. Nào Sói hãy lại đây thử xem!
Sói sợ quá vội vàng chuồn thẳng
4 . Hai anh em
Ngày xửa ngày xưa ở ngôi làng nọ có hai vợ chồng bác nông phu hiền lành chất phác. Họ chăm chỉ làm ăn, cầy sâu cuốc bẫm. Khi mới cưới nhau, họ rất nghèo Người chồng phải đi cầy thuê, người vợ phải đi cấy mướn. Nhưng chẳng bao lâu, nhờ đức tính cần cù làm việc, họ dành dụm mua được ít mẫu ruộng và một con trâu Từ đó, vợ chồng bác sống trong cảnh ấm êm, no đủ. Họ sinh được hai đứa con trai mặt mũi sáng sủa, đặt tên người anh là Hòa, người em là Thuận.
Năm tháng hạnh phúc êm đềm trôi, hai người con trai từ từ khôn lớn, trở thành hai chàng trai thông minh, khoẻ mạnh, hiền lành và hiếu thảọ Hai anh em Hòa và Thuận rất thương yêu nhau, trên kính, dưới nhường. Họ vui vẻ chia với nhau những việc trong nhà, ngoài ruộng không một lời tranh cãi giận hờn. Vì thế, gia đình họ lúc nào cũng có tiếng cười vui, mặc dầu, họ không có của ăn của để như những người trong làng trong xóm.
Thời gian trôi qua, vợ chồng bác nông phu già yếu và lần lượt qua đời. Hai người con trai của họ cũng trưởng thành. Hòa- người anh đã có vợ con và nhà cửa riêng, còn Thuận - người em vẫn độc thân và sống ở căn nhà cũ. Hai anh em chia đều nhau những thửa ruộng của cha mẹ để lại Họ thăm viếng yêu thương nhau không khác lúc cha mẹ họ còn sống.
Mùa lúa năm ấy, chẳng may trời làm hạn hán, không thu hoạch được bao nhiêu. Người anh về nhà đêm ấy bàn với vợ :
- Mẹ cu tí này, năm nay không thu được nhiều lúa, mà em ta, lại sắp cưới vơ, nó cần dược đầy đủ hơn vợ chồng mình. Hay là ta lén ra ruộng lấy bớt phần lúa của ta để sang cho nó ?
Người vợ là người tốt bụng nên đồng ý ngay với chồng. Chị vội giục anh đi làm ngay kẻo trời sáng mất.
Trong đêm đó, trước khi đi ngủ người em tự bảo mình rằng :
- Mùa lúa năm nay kém quá. Ta còn độc thân không ngại lắm. Anh ta có vợ, có con. Chắc hẳn anh ta cần để lo cho vợ con hơn tạ Hay là ta ra ruộng lấy bớt phần lúa của ta mà để sang cho anh.
Nghĩ thế rồi, người em mở cửa đi ra cánh đồng. Trong khi người anh đang khệ nệ ôm bó lúa nặng trĩu từ đống lúa của mình đi sang phần ruộng của người em thì anh cũng thấy một bóng người đang hì hục vác trên vai một bó lúa từ đống lúa của em mình đi về phía ruộng của mình. Gặp nhau ở giữa đường, hai anh em nhận ra nhau. Hiểu ý nhau, xúc động quá, hai anh em bỏ lúa xuống, ôm chầm lấy nhau mà khóc.
III. ĐỒNG DAO
1 . Tay đẹp

Một tay đẹp
Hai tay đêp
Ba tay đẹp
Tay dệt vải
Tay vãi rau
Tay buông câu
Tay chặt củi
Tay đắp núi
Tay đào song
Tay cạo long
Tay mổ lợn
Tay bắt vượn
Tay bắt voi
Tay bẻ roi
Tay đánh hổ
Một tay đẹp
Hai tay đêp
Ba tay đẹp
Tay dệt vải
Tay vãi rau
Tay buông câu
Tay chặt củi
Tay đắp núi
Tay đào song
Tay cạo long
Tay mổ lợn
Tay bắt vượn
Tay bắt voi
Tay bẻ roi
Tay đánh hổ
2 . Con công hay múa
Con công hay múa
Nó múa làm sao
Nó rụt cổ vào
Nó xòe cánh ra
Nó đỗ cành đa
Nó kêu vít vít
Nó đỗ cành mít
Nó kêu vịt chè,
Nó đỗ cành tre
Nó kêu bè muống,
Nó đỗ dưới ruộng
Nó kêu tầm vông,
Con công hay múa…
Nó múa làm sao
Nó rụt cổ vào
Nó xòe cánh ra
Nó đỗ cành đa
Nó kêu vít vít
Nó đỗ cành mít
Nó kêu vịt chè,
Nó đỗ cành tre
Nó kêu bè muống,
Nó đỗ dưới ruộng
Nó kêu tầm vông,
Con công hay múa…
3 . Rềnh rềnh ràng ràng
Ba
gang chiếu trải
Xích
lại cho gần
Một
người hai chân
Hai
người ba chân
Ba
người sáu chân
Bốn
người tám chân
Chân
gầy chân béo
Dệt
vải cho bà
Vải
hoa vải trắng
Đến
mai trời nắng
Đem
vải ra phơi
Đến
mốt đẹp trời
Đem
ra may áo
Rềnh
rềnh ràng ràng
4 . Vuốt hột nổ
Vuốt
hột nổ
Đổ bánh bèo
Xáo xác vạc kêu
Nồi đồng vung méo
Cái kéo thợ may
Cái cày làm ruộng
Cái thuổng đắp bờ
Cái lờ thả cà
Cái ná bắn chim
Cái kim may áo
Cái giáo đi săn
Cái khăn bịt trốc
Cái nốc đi buôn
Cái khuôn đúc bánh
Cái chén múc chè
Cái ve múc rượu
Đổ bánh bèo
Xáo xác vạc kêu
Nồi đồng vung méo
Cái kéo thợ may
Cái cày làm ruộng
Cái thuổng đắp bờ
Cái lờ thả cà
Cái ná bắn chim
Cái kim may áo
Cái giáo đi săn
Cái khăn bịt trốc
Cái nốc đi buôn
Cái khuôn đúc bánh
Cái chén múc chè
Cái ve múc rượu
IV . CA DAO
1 .
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Ngày nào con bé cỏn con
Bây giờ con đã lớn khôn thế này.
Cơm cha, áo mẹ, công thầy,
Lo sao cho đáng những ngày ước mong.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Ngày nào con bé cỏn con
Bây giờ con đã lớn khôn thế này.
Cơm cha, áo mẹ, công thầy,
Lo sao cho đáng những ngày ước mong.
(Khuyết Danh)
2 . Chim trời ai dễ đếm lông
Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày.
=> Các con có nhớ cái tuổi lên ba, lên năm cha làm ngựa cho con cưỡi, tập cho con đi những bước chập chững đầu tiên... Có bao giờ các con nghĩ đến việc không còn cha còn mẹ không? Cha mẹ không sống đời với ta đâu. Các con có cha mẹ bằng xương, bằng thịt bên cạnh là hạnh phúc lắm rồi. Cha mẹ qua đời thì ta cô đơn lắm, mất cha, mất mẹ là mất cả cuộc đời.........
Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày.
=> Các con có nhớ cái tuổi lên ba, lên năm cha làm ngựa cho con cưỡi, tập cho con đi những bước chập chững đầu tiên... Có bao giờ các con nghĩ đến việc không còn cha còn mẹ không? Cha mẹ không sống đời với ta đâu. Các con có cha mẹ bằng xương, bằng thịt bên cạnh là hạnh phúc lắm rồi. Cha mẹ qua đời thì ta cô đơn lắm, mất cha, mất mẹ là mất cả cuộc đời.........
3 . Anh em nào phải người xa,
Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân.
Yêu nhau như thể tay chân,
Anh em hoà thuận hai thân vui vầy.
Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân.
Yêu nhau như thể tay chân,
Anh em hoà thuận hai thân vui vầy.
4 . CÁI CÒ CHẾT TỐI HÔM QUA
Cái cò chết tối hôm qua,
Có hai hạt gạo với ba đồng tiền.
Một đồng mua trống, mua kèn,
Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong.
Một đồng mua mớ rau rong,
Đem về thái nhỏ thờ vong con cò.
5 . CÁI CÒ LÀ CÁI CÒ VÀNG
Cái cò là cái còn vàng,
Mẹ đi đắp đàng, con ở với ai?
Con ở với bà, bà không có vú,
Con ở với chú, chú là đàn ông.
6 . CÁI CÒ LÀ CÁI CÒ CON
Cái cò là cái cò con,
Mẹ nó yêu nó, nó còn làm thơ. *
Cái cò bay lửng bay lơ,
Lại đây anh gửi xôi khô cho nàng.
Đem về nàng nấu, nàng rang,
Nàng ăn có giẻo, thời nàng lấy anh.
7. CÁI CÒ TRẮNG BẠCH NHƯ VÔI
Cái cò trắng bạch như vôi,
Cô kia lấy lẽ chú tôi thì về.
Chú tôi chẳng mắng, chẳng chê,
Thím tôi móc mắt, mổ mề xem gan.
8. CÁI CỐC MÀY LẶN AO CHÀ
Cái cốc mày lặn ao chà*,
Bay lên rủ cánh làm nhà chị nương.
Yếm thắm mà nhuộm hoa nương,
Cái răng hạt đỗ làm tương anh đồ.
Yếm thắm mà vã nước hồ,
Vã đi vã lại anh đồ yêu đương.
9 . NƯỚC NON LẬN ĐẬN MỘT MÌNH
Nước non lận đận một mình,
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.
Ai làm cho bể kia đầy,
Cho ai kia cạn cho gầy cò con.
10 . CÁI CÒ LẶN LỘI BỜ SÔNG
Cái cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non.
Nàng về nuôi cái cùng con,
Để anh đi trẩy *, nước non Cao Bằng.
Chân đi đá lại dùng dằng,
Nửa nhớ Cao Bằng, nửa nhớ vợ con.
11. CÁI CÒ LÀ CÁI CÒ KỲ
Cái cò là cái cò kỳ,
Ăn cơm nhà dì, uống nước nhà cô.
Đêm nằm thì ngáy o o,
Chửa đi đến chợ đã lo ăn quà.
Hàng bánh, hàng bún bày ra,
Củ từ, khoai nước cùng là cháo kê.
Ăn rồi cắp đít ra về,
Thấy hàng chả chó lại lê trôn vào.
Chả này bà bán làm sao ?
Ba đồng một gắp lẽ nào chẳng mua.
Nói dối là mua cho chồng,
Đem đến quãng đồng, ngả nón ra ăn.
Thoạt là đau bụng lăm răm,
Về nhà đau quẳn đau quăn dạ dày.
Đem tiền đi bói ông thầy,
Bói ra quẻ này, những chả cùng nem.
Cô nàng nói dối đã quen,
Nào tôi ăn chả ăn nem bao giờ.
12. CON CÒ CON VẠC CON NÔNG
Con cò con vạc con nông,
Ba con cũng béo vặt lông con nào ?
Vặt lông con vạc cho tao,
Hành răm nước mắm bỏ vào mà thuôn.
13. CON CÒ MÀ ĐI ĂN ĐÊM
Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi, ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào ông hãy sáo măng.
Có sáo thì sáo nước trong,
Đừng sáo nước đục đau lòng cò con.
14. CON CÒ LÀ CON CÒ QUĂM
Con cò là con cò quăm,
Mày hay đánh vợ, mày nằm với ai?
Có đánh thì đánh sớm mai,
Chớ đánh chập tối, chẳng ai cho nằm.
15. CÁI CÒ CÁI VẠC CÁI NÔNG
Cái cò cái vạc cái nông,
Sao mày dẵm lúa nhà ông hỡi cò.
Không, không, tôi đứng trên bờ,
Mẹ con nhà nó đổ ngờ cho tôi.
Chẳng tin thì ông đi đôi,
Mẹ con nhà nó còn ngồi đây kia.
16. CÁI CÒ LẶN LỘI BỜ AO
Cái cò lặn lội bờ ao,
Hỡi cô yếm đào, lấy chú tôi chăng ?
Chú tôi hay tửu, hay tăm,
Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa.
Ngày thì những muốn trời mưa,
Đêm thì những muốn đêm thừa trống canh.
17. CÁI CÒ LÀ CÁI CÒ CON
Cái cò là cái cò con,
Mẹ đi xúc tép để con ở nhà.
Mẹ đi một quãng đường xa,
Mẹ sà chân xuống phải mà con lươn.
Ông kia có cái thuyền nan,
Chở vào ao rậm xem lươn bắt cò.
Ông kia chống gậy lò dò,
Con lươn thụt xuống, con cò bay lên.
18. CÁI CÒ CHẾT RŨ TRÊN CÂY
Cái cò chết rũ trên cây,
Cò con mở sách xem ngày làm ma.
Cà cuống uống rượu la đà,
Chim ri ríu rít bò ra chia phần.
Cái cò chết tối hôm qua,
Có hai hạt gạo với ba đồng tiền.
Một đồng mua trống, mua kèn,
Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong.
Một đồng mua mớ rau rong,
Đem về thái nhỏ thờ vong con cò.
5 . CÁI CÒ LÀ CÁI CÒ VÀNG
Cái cò là cái còn vàng,
Mẹ đi đắp đàng, con ở với ai?
Con ở với bà, bà không có vú,
Con ở với chú, chú là đàn ông.
6 . CÁI CÒ LÀ CÁI CÒ CON
Cái cò là cái cò con,
Mẹ nó yêu nó, nó còn làm thơ. *
Cái cò bay lửng bay lơ,
Lại đây anh gửi xôi khô cho nàng.
Đem về nàng nấu, nàng rang,
Nàng ăn có giẻo, thời nàng lấy anh.
7. CÁI CÒ TRẮNG BẠCH NHƯ VÔI
Cái cò trắng bạch như vôi,
Cô kia lấy lẽ chú tôi thì về.
Chú tôi chẳng mắng, chẳng chê,
Thím tôi móc mắt, mổ mề xem gan.
8. CÁI CỐC MÀY LẶN AO CHÀ
Cái cốc mày lặn ao chà*,
Bay lên rủ cánh làm nhà chị nương.
Yếm thắm mà nhuộm hoa nương,
Cái răng hạt đỗ làm tương anh đồ.
Yếm thắm mà vã nước hồ,
Vã đi vã lại anh đồ yêu đương.
9 . NƯỚC NON LẬN ĐẬN MỘT MÌNH
Nước non lận đận một mình,
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.
Ai làm cho bể kia đầy,
Cho ai kia cạn cho gầy cò con.
10 . CÁI CÒ LẶN LỘI BỜ SÔNG
Cái cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non.
Nàng về nuôi cái cùng con,
Để anh đi trẩy *, nước non Cao Bằng.
Chân đi đá lại dùng dằng,
Nửa nhớ Cao Bằng, nửa nhớ vợ con.
11. CÁI CÒ LÀ CÁI CÒ KỲ
Cái cò là cái cò kỳ,
Ăn cơm nhà dì, uống nước nhà cô.
Đêm nằm thì ngáy o o,
Chửa đi đến chợ đã lo ăn quà.
Hàng bánh, hàng bún bày ra,
Củ từ, khoai nước cùng là cháo kê.
Ăn rồi cắp đít ra về,
Thấy hàng chả chó lại lê trôn vào.
Chả này bà bán làm sao ?
Ba đồng một gắp lẽ nào chẳng mua.
Nói dối là mua cho chồng,
Đem đến quãng đồng, ngả nón ra ăn.
Thoạt là đau bụng lăm răm,
Về nhà đau quẳn đau quăn dạ dày.
Đem tiền đi bói ông thầy,
Bói ra quẻ này, những chả cùng nem.
Cô nàng nói dối đã quen,
Nào tôi ăn chả ăn nem bao giờ.
12. CON CÒ CON VẠC CON NÔNG
Con cò con vạc con nông,
Ba con cũng béo vặt lông con nào ?
Vặt lông con vạc cho tao,
Hành răm nước mắm bỏ vào mà thuôn.
13. CON CÒ MÀ ĐI ĂN ĐÊM
Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi, ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào ông hãy sáo măng.
Có sáo thì sáo nước trong,
Đừng sáo nước đục đau lòng cò con.
14. CON CÒ LÀ CON CÒ QUĂM
Con cò là con cò quăm,
Mày hay đánh vợ, mày nằm với ai?
Có đánh thì đánh sớm mai,
Chớ đánh chập tối, chẳng ai cho nằm.
15. CÁI CÒ CÁI VẠC CÁI NÔNG
Cái cò cái vạc cái nông,
Sao mày dẵm lúa nhà ông hỡi cò.
Không, không, tôi đứng trên bờ,
Mẹ con nhà nó đổ ngờ cho tôi.
Chẳng tin thì ông đi đôi,
Mẹ con nhà nó còn ngồi đây kia.
16. CÁI CÒ LẶN LỘI BỜ AO
Cái cò lặn lội bờ ao,
Hỡi cô yếm đào, lấy chú tôi chăng ?
Chú tôi hay tửu, hay tăm,
Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa.
Ngày thì những muốn trời mưa,
Đêm thì những muốn đêm thừa trống canh.
17. CÁI CÒ LÀ CÁI CÒ CON
Cái cò là cái cò con,
Mẹ đi xúc tép để con ở nhà.
Mẹ đi một quãng đường xa,
Mẹ sà chân xuống phải mà con lươn.
Ông kia có cái thuyền nan,
Chở vào ao rậm xem lươn bắt cò.
Ông kia chống gậy lò dò,
Con lươn thụt xuống, con cò bay lên.
18. CÁI CÒ CHẾT RŨ TRÊN CÂY
Cái cò chết rũ trên cây,
Cò con mở sách xem ngày làm ma.
Cà cuống uống rượu la đà,
Chim ri ríu rít bò ra chia phần.
19 . Con cò cò bay lả (ơ) lả lả bay la
Bay từ từ cửa phủ bay ra ra cánh đồng.
Tình tính tang, tang tính tình
Duyên tình rằng (ơ) duyên tình ơi
Rằng có nhớ, nhớ hay không
Rằng có nhớ, nhớ hay không.
Bay từ từ cửa phủ bay ra ra cánh đồng.
Tình tính tang, tang tính tình
Duyên tình rằng (ơ) duyên tình ơi
Rằng có nhớ, nhớ hay không
Rằng có nhớ, nhớ hay không.
B . GIAI ĐOẠN II
I . THƠ
1 . Cái Bát Xinh Xinh
Mẹ cha công tác
Nhà máy Bát Tràng
Mang về cho bé
Cái bát xinh xinh
Có cành hoa cúc
Nở xoè rung rinh.
Từ bùn đất sét
Qua bàn tay cha
Qua bàn tay mẹ
Thành cái bát hoa.
Nâng niu bé giữ
Mỗi bữa hàng ngày
Công cha, công mẹ
Bé cầm trên tay.
Nhà máy Bát Tràng
Mang về cho bé
Cái bát xinh xinh
Có cành hoa cúc
Nở xoè rung rinh.
Từ bùn đất sét
Qua bàn tay cha
Qua bàn tay mẹ
Thành cái bát hoa.
Nâng niu bé giữ
Mỗi bữa hàng ngày
Công cha, công mẹ
Bé cầm trên tay.
2 . Hoa cúc vàng
Suốt cả mùa đông
Nắng đi đâu miết
Trời đắp chăn bong
Còn cây chịu rét
Sớm nay nở hết
Đầy sân cúc vàng
Thấy mùa xuân đẹp
Nắng lại về chăng
ồ chẳng phải đâu
mùa đông nắng ít
Cúc gôm nắng vàng.
Vào trong lá biếc.
Chờ cho đến tết,
Nở bung thành hoa
Rực vàng hoa cúc
ấm vui mọi nhà
Suốt cả mùa đông
Nắng đi đâu miết
Trời đắp chăn bong
Còn cây chịu rét
Sớm nay nở hết
Đầy sân cúc vàng
Thấy mùa xuân đẹp
Nắng lại về chăng
ồ chẳng phải đâu
mùa đông nắng ít
Cúc gôm nắng vàng.
Vào trong lá biếc.
Chờ cho đến tết,
Nở bung thành hoa
Rực vàng hoa cúc
ấm vui mọi nhà
(
Nguyễn văn Chương)
3 . Bó hoa tặng cô
Ngày mồng tám tháng ba
Chúng em đi hái hoa
Mang về tặng cô giáo
Bó hoa của em đây
Vàng tươi hoa cúc áo
Hồng hồng hoa cối xay
Đỏ rực nụ dong riềng
Tím tím hoa bìm bìm
Dây tơ hồng em cuốn
Thành một bó vừa xinh
Sao em hồi hộp thế
Chẳng nói được câu nào
Lời cô than thiết sao
Vòng tay cô dịu quá
Có phải hoa nói hộn
Cho lòng em xôn xao
Ôi chum hoa bé nhỏ
Của đồng quê ngọt ngào
Ngày mồng tám tháng ba
Chúng em đi hái hoa
Mang về tặng cô giáo
Bó hoa của em đây
Vàng tươi hoa cúc áo
Hồng hồng hoa cối xay
Đỏ rực nụ dong riềng
Tím tím hoa bìm bìm
Dây tơ hồng em cuốn
Thành một bó vừa xinh
Sao em hồi hộp thế
Chẳng nói được câu nào
Lời cô than thiết sao
Vòng tay cô dịu quá
Có phải hoa nói hộn
Cho lòng em xôn xao
Ôi chum hoa bé nhỏ
Của đồng quê ngọt ngào
(
Ngô Quân Miện)
4. Chú bộ đội hành quân trong mưa
Mưa rơi, mưa rơi
Lộp bộp, lộp bộp
Áo dù có ướt
Vẫn đi, vẫn đi
Đường ra mặt trận
Còn dài, còn dài
Cho dù mưa rơi
Chú vẫn đi tới
Chú đi trong đêm
Long lanh sao đỏ
Như ngọn đèn nhỏ
Soi đường hành quân
Mưa rơi, mưa rơi
Áo dù có ướt
Vẫn đi , vẫn đi
Chân dồn dập bước
Mưa rơi, mưa rơi
Lộp bộp, lộp bộp
Áo dù có ướt
Vẫn đi, vẫn đi
Đường ra mặt trận
Còn dài, còn dài
Cho dù mưa rơi
Chú vẫn đi tới
Chú đi trong đêm
Long lanh sao đỏ
Như ngọn đèn nhỏ
Soi đường hành quân
Mưa rơi, mưa rơi
Áo dù có ướt
Vẫn đi , vẫn đi
Chân dồn dập bước
(Vũ Thùy Hương)
5 . Chiếc cầu mới
Trên dòng song trắng
Cầu mới dựng lên
Nhân dân đi bên
Tàu xe chạy giữa
Tu tux e lửa
Xình xịch qua cầu
Khách ngồi trên tàu
Dòan người đi bộ
Cùng cười hớn hở
Nhìn chiếc cầu dài
Tấm tắc khen tài
Công nhân xây dựng.
Trên dòng song trắng
Cầu mới dựng lên
Nhân dân đi bên
Tàu xe chạy giữa
Tu tux e lửa
Xình xịch qua cầu
Khách ngồi trên tàu
Dòan người đi bộ
Cùng cười hớn hở
Nhìn chiếc cầu dài
Tấm tắc khen tài
Công nhân xây dựng.
(
Thái Hòang Linh)
II. TRUYỆN
1 . Sự tích bánh chưng bánh giầy
Ngày xưa ở nước ta,
trong số các con của vua Hùng Vương thứ 6, có một con người con trai tên là
Lang Liêu. Các hoàng tử khác đều văn hay giỏi võ, nhưng lại không thích lao động
chân lấm tay bung, chỉ riêng có Lang Liêu là chăm chỉ hiền lanh, ưa nghề trồng
trọt. Chàng đem vợ con về quê vỡ nương, cuốc bãi, cùng với bà con nông dân đổ mồ
hôi làm ăn nuôi miệng.
Một hôm vào dịp cuối năm, vua Hùng Vương cho vời đông đủ các con đến và bảo:
- Đến ngày hội lớn đầu năm, ai tìm được của ngon vật lạ nhất đem đến để tế trời, đất thì sẽ được nhường ngôi.
Các hoàng tử tỏa đi khắp bốn phương. Người thì lên rừng đốc thúc bộ hạ săn thú, bắn chim. Kẻ thì xuống biển bắt dân chài mò trai, bắt cá. Riêng Lang Liêu rất băn khoăn lo lắng không biết tìm vật gì dâng lên vua cha.
Một hôm đi thăm đồng, Lang Liêu thấy ruộng lúa nếp của mình đã chín vàng, những hạt nếp vừa mẩy, vừa thơm, tưởng không còn gì quí hơn nữa. Chàng về gọi vợ cùng bà con trong xóm ra gặt. Đến quá trưa gặt xong thửa ruộng, mọi người vui vẻ gánh lúa về.
Tối hôm ấy, Lang Liêu đập lúa dưới trăng. Nhìn lên bầu trời trong xanh bát ngát, nhớ đến cánh đồng lúa mênh mông nuôi sống con người. Lang Liêu chợt nghĩ:
- Ta sẽ dùng nếp trắng thơm này để làm hai thứ bánh, một cái tròn như hình bầu trời cao xa, một thứ vuông giống như hình đất màu mỡ. Bánh ngon, thơm lại ngụ ý tốt, nhất định phải được mọi người quý trọng, vua cha hẳn vui lòng.
Sáng hôm sau Lang Liêu đem ý định của mình nói với vợ con. Ai nấy đều mừng, cùng nhau bàn cách làm hai thứ bánh.
Họ lấy gạo nếp vo kĩ, đồ xôi thật dẻo, cho vào cối giã thật mịn rồi nặn một thứ bánh hình tròn mịn màng và trong trẻo như bầu trời.
Họ lại lấy lá dong tươi gói gạo nếp sống, ngâm đỗ xanh làm một thứ bánh hình vuông có màu xanh cây cỏ, có những thứ hạt nuôi sống người, giống như mặt đất.
Để tiêu biểu cho loài muông thú trên mặt đất, Lang Liêu xách nỏ vào rừng săn lợn to để làm nhân thịt vào bánh.
Bà con xung quanh vốn mến tính hiền lành chăm chỉ của Lang Liêu, thấy vợ chồng chàng bận rộn làm hai thứ bánh quý bèn kéo nhau sang làm giúp.
Gói xong bánh hình đất, hai vợ chồng Lang Liêu xếp cả vào nồi lớn, nhóm lửa đun kĩ. Cả đêm hôm ấy, gia đình Lang Liêu quây quần xung quanh bếp lửa cho đến khi bánh chín.
Sáng hôm sau, vợ chồng Lang Liêu sung sướng nhìn lại hai chiếc mâm lớn xếp đầy hai thứ bánh quý, kết quả công sức và sáng tạo của mình. Hai thứ bánh quả là món quà quý nhất, ngon nhất, lạ nhất để chàng dâng lên chúc thọ vua cha nhân ngày hội lớn đầu năm.
Đúng ngày hội lớn, các hoàng tử mang của ngon, vật lạ các nơi về đông đủ. Bên cạnh những thứ đó, lễ vật của Lang Liêu có vẻ đơn giản quá. Nhưng sau khi nghe Lang Liêu tâu trình rõ cách làm và ý nghĩa của hai thứ bánh quý thì vua cha rất vui mừng và cảm động .
Vua Hùng chọn hai thứ bánh của Lang Liêu để tế trời đất rồi chia cho các hoàng tử và các quần thần nếm thử. Ai cũng phải khen bánh có vị ngon, hương lạ mà lại có ý nghĩa sâu xa, đúng là của quý nhất trong ngày hội đầu năm.
Vua Hùng thứ 6 bèn truyền ngôi cho Lang Liêu, ngài đặt tên cho hai thứ bánh quý, bánh giầy là hình bầu trời, bánh chưng là bánh hình mặt đất.
Một hôm vào dịp cuối năm, vua Hùng Vương cho vời đông đủ các con đến và bảo:
- Đến ngày hội lớn đầu năm, ai tìm được của ngon vật lạ nhất đem đến để tế trời, đất thì sẽ được nhường ngôi.
Các hoàng tử tỏa đi khắp bốn phương. Người thì lên rừng đốc thúc bộ hạ săn thú, bắn chim. Kẻ thì xuống biển bắt dân chài mò trai, bắt cá. Riêng Lang Liêu rất băn khoăn lo lắng không biết tìm vật gì dâng lên vua cha.
Một hôm đi thăm đồng, Lang Liêu thấy ruộng lúa nếp của mình đã chín vàng, những hạt nếp vừa mẩy, vừa thơm, tưởng không còn gì quí hơn nữa. Chàng về gọi vợ cùng bà con trong xóm ra gặt. Đến quá trưa gặt xong thửa ruộng, mọi người vui vẻ gánh lúa về.
Tối hôm ấy, Lang Liêu đập lúa dưới trăng. Nhìn lên bầu trời trong xanh bát ngát, nhớ đến cánh đồng lúa mênh mông nuôi sống con người. Lang Liêu chợt nghĩ:
- Ta sẽ dùng nếp trắng thơm này để làm hai thứ bánh, một cái tròn như hình bầu trời cao xa, một thứ vuông giống như hình đất màu mỡ. Bánh ngon, thơm lại ngụ ý tốt, nhất định phải được mọi người quý trọng, vua cha hẳn vui lòng.
Sáng hôm sau Lang Liêu đem ý định của mình nói với vợ con. Ai nấy đều mừng, cùng nhau bàn cách làm hai thứ bánh.
Họ lấy gạo nếp vo kĩ, đồ xôi thật dẻo, cho vào cối giã thật mịn rồi nặn một thứ bánh hình tròn mịn màng và trong trẻo như bầu trời.
Họ lại lấy lá dong tươi gói gạo nếp sống, ngâm đỗ xanh làm một thứ bánh hình vuông có màu xanh cây cỏ, có những thứ hạt nuôi sống người, giống như mặt đất.
Để tiêu biểu cho loài muông thú trên mặt đất, Lang Liêu xách nỏ vào rừng săn lợn to để làm nhân thịt vào bánh.
Bà con xung quanh vốn mến tính hiền lành chăm chỉ của Lang Liêu, thấy vợ chồng chàng bận rộn làm hai thứ bánh quý bèn kéo nhau sang làm giúp.
Gói xong bánh hình đất, hai vợ chồng Lang Liêu xếp cả vào nồi lớn, nhóm lửa đun kĩ. Cả đêm hôm ấy, gia đình Lang Liêu quây quần xung quanh bếp lửa cho đến khi bánh chín.
Sáng hôm sau, vợ chồng Lang Liêu sung sướng nhìn lại hai chiếc mâm lớn xếp đầy hai thứ bánh quý, kết quả công sức và sáng tạo của mình. Hai thứ bánh quả là món quà quý nhất, ngon nhất, lạ nhất để chàng dâng lên chúc thọ vua cha nhân ngày hội lớn đầu năm.
Đúng ngày hội lớn, các hoàng tử mang của ngon, vật lạ các nơi về đông đủ. Bên cạnh những thứ đó, lễ vật của Lang Liêu có vẻ đơn giản quá. Nhưng sau khi nghe Lang Liêu tâu trình rõ cách làm và ý nghĩa của hai thứ bánh quý thì vua cha rất vui mừng và cảm động .
Vua Hùng chọn hai thứ bánh của Lang Liêu để tế trời đất rồi chia cho các hoàng tử và các quần thần nếm thử. Ai cũng phải khen bánh có vị ngon, hương lạ mà lại có ý nghĩa sâu xa, đúng là của quý nhất trong ngày hội đầu năm.
Vua Hùng thứ 6 bèn truyền ngôi cho Lang Liêu, ngài đặt tên cho hai thứ bánh quý, bánh giầy là hình bầu trời, bánh chưng là bánh hình mặt đất.
2 . Sơn Tinh, Thủy Tinh
Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên gọi là Mỵ Nương, sắc đẹp tuyệt
trần. Mỵ Nương được vua cha yêu thương rất mực. Nhà vua muốn kén cho nàng một
người chồng thật xứng đáng.
Một hôm có hai chàng trai đến, xin ra mắt nhà vua để cầu hôn. Một người ở vùng núi Ba Vì, tuấn tú và tài giỏi khác thường: chỉ tay về phía đông, phía đông biến thành đồng lúa xanh, chỉ tay về phía tây, phía tây mọc lên hàng dãy núi. Nhân dân trong vùng gọi chàng là Sơn Tinh. Còn một người ở mãi tận miền biển Đông tài giỏi cũng không kém: gọi gió, gió đến, hò ma, ma tới - Chàng này tên gọi là Thủy Tinh.
Một người là chúa của miền non cao, một người là chúa của vùng nước thẳm, cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng cả. Hùng Vương băn khoăn không biết nhận lời ai, từ chối ai. Nhà vua cho mời các quan lạc hầu vào bàn mà vẫn không tìm được kế hay. Cuối cùng, Hùng Vương phán rằng:
- Hai người đều vừa ý ta cả, nhưng ta chỉ có một người con gái, biết gả cho người nào? Ngày mai, nếu ai đem đồ sính lễ đến đây trước: một trăm ván cơm nếp, hai trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, thì được rước dâu về.
Sáng sớm hôm sau, Sơn Tinh đã đem đầy đủ lễ vật đến trước và được phép đưa dâu về núi. Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo, một hai đòi cướp lại Mỵ Nương.
Thủy Tinh hô ma, gọi gió, làm thành dông bão đùng đùng rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn tiến đánh Sơn Tinh. Nước ngập lúa, ngập đồng rồi ngập nhà, ngập cửa.
Sơn Tinh không hề nao núng, dùng phép màu bốc từng quả đồi, di từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại làm cho đồi, núi mọc cao lên bấy nhiêu. Hai bên đánh nhau ròng rã mấy tháng trời liền, cuối cùng Thủy Tinh đuối sức phải rút quân về.
Từ đó, oán ngày càng thêm nặng, thù ngày càng thêm sâu, không năm nào Thủy Tinh không làm mưa làm bão, dâng nước lên đánh Sơn Tinh và lần nào Thủy Tinh cũng thua, phải bỏ chạy.
Một hôm có hai chàng trai đến, xin ra mắt nhà vua để cầu hôn. Một người ở vùng núi Ba Vì, tuấn tú và tài giỏi khác thường: chỉ tay về phía đông, phía đông biến thành đồng lúa xanh, chỉ tay về phía tây, phía tây mọc lên hàng dãy núi. Nhân dân trong vùng gọi chàng là Sơn Tinh. Còn một người ở mãi tận miền biển Đông tài giỏi cũng không kém: gọi gió, gió đến, hò ma, ma tới - Chàng này tên gọi là Thủy Tinh.
Một người là chúa của miền non cao, một người là chúa của vùng nước thẳm, cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng cả. Hùng Vương băn khoăn không biết nhận lời ai, từ chối ai. Nhà vua cho mời các quan lạc hầu vào bàn mà vẫn không tìm được kế hay. Cuối cùng, Hùng Vương phán rằng:
- Hai người đều vừa ý ta cả, nhưng ta chỉ có một người con gái, biết gả cho người nào? Ngày mai, nếu ai đem đồ sính lễ đến đây trước: một trăm ván cơm nếp, hai trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, thì được rước dâu về.
Sáng sớm hôm sau, Sơn Tinh đã đem đầy đủ lễ vật đến trước và được phép đưa dâu về núi. Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo, một hai đòi cướp lại Mỵ Nương.
Thủy Tinh hô ma, gọi gió, làm thành dông bão đùng đùng rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn tiến đánh Sơn Tinh. Nước ngập lúa, ngập đồng rồi ngập nhà, ngập cửa.
Sơn Tinh không hề nao núng, dùng phép màu bốc từng quả đồi, di từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại làm cho đồi, núi mọc cao lên bấy nhiêu. Hai bên đánh nhau ròng rã mấy tháng trời liền, cuối cùng Thủy Tinh đuối sức phải rút quân về.
Từ đó, oán ngày càng thêm nặng, thù ngày càng thêm sâu, không năm nào Thủy Tinh không làm mưa làm bão, dâng nước lên đánh Sơn Tinh và lần nào Thủy Tinh cũng thua, phải bỏ chạy.
3 . Sự tích Hồ Gươm
Vào thời ấy, giặc Minh đặt ách đô hộ ở nước Nam. Chúng coi dân ta như cỏ rác, thi hành nhiều điều bạo ngược làm cho thiên hạ căm giận đến tận xương tủy. Bấy giờ ở vùng Lam Sơn, nghĩa quân đã nổi dậy chống lại chúng, nhưng buổi đầu thế lực còn non yếu nên nhiều lần bị giặc đánh cho tan tác.
Thấy vậy, đức Long quân quyết định cho họ mượn thanh gươm thần để họ giết giặc. Hồi ấy ở Thanh Hóa có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như lệ thường. Tự nhiên trong một lần kéo lưới, chàng thấy nằng nặng, trong bụng mừng thầm chắc là có cá to. Nhưng khi thò tay bắt cá, Thận mới biết đó là một thanh sắt. Chàng vứt luôn xuống nước rồi lại thả lưới ở một chỗ khác. Lần thứ hai cất lưới lên cũng thấy nặng tay. Thận không ngờ thanh sắt vừa rồi lại chui vào lưới mình. Chàng lại nhặt lên và ném xuống sông. Lần thứ ba lại vẫn thanh sắt ấy mắc vào lưới. Lấy làm quái lạ, Thận ghé mồi lửa lại nhìn xem. Bỗng chàng reo lên một mình:
-Ha ha! Một lưỡi gươm! Thận về sau gia nhập đoàn quân khởi nghĩa Lam Sơn. Chàng đã mấy lần vào sinh ra tử nơi trận mạc để diệt lũ cướp nước. Một hôm, chủ tướng Lê Lợi cùng mấy người tùy tòng đến nhà Thận. Trong gian nhà tối om, thanh sắt hôm đó chợt sáng quắc lên ở xó nhà. Lấy làm lạ, Lê Lợi đến gần cầm lấy xem và nhận ra có hai chữ "Thuận Thiên" khắc sâu vào lưỡi. Song tất cả mọi người vẫn không biết đó là báu vật. Một hôm bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng chạy tháo thân mỗi người một ngả. Lúc đi qua một khu rừng, Lê Lợi bỗng thấy một ánh sáng lạ trên ngọn cây đa. ạng trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ tới lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lợi rút lấy chuôi giắt vào lưng. Ba ngày sau, Lê Lợi gặp lại tất cả các bạn, trong đó có Lê Thận. Khi lắp lưỡi vào với chuôi thì kỳ lạ thay, vừa vặn khớp nhau. Lê Lợi bèn kể lại câu chuyện. Mọi người nghe xong đều hồ hởi vui mừng. Lê Thận nâng gươm lên ngang đầu nói với chủ tướng:
-Đây là thần có ý phó thác cho "minh công" làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương da của mình theo "minh công" và thanh gươm thần này để báo đền xã tắc! Từ đó khí thế của nghĩa quân ngày một tăng.
Trong tay Lê Lợi, thanh gươm thần tung hoành trên mọi trận địa và làm cho quân Minh bạt vía. Chẳng bao lâu tiếng tăm của quân Lam Sơn ran khắp nơi. Họ không phải trốn tránh trong rừng mà xông xáo đi tìm giặc. Họ không phải ăn uống khổ cực như trước nữa, đã có những kho lương của giặc mới cướp được tiếp tế cho họ. Gươm thần đã mở đường cho họ đánh tràn ra mãi, cho đến lúc không còn bóng một tên giặc trên đất nước. Sau khi đuổi giặc Minh về được một năm, ngày hôm ấy Lê Lợi -bấy giờ đã là một vị thiên tử -cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng trước kinh thành. Nhân dịp đó, Long quân sai rùa vàng lên đòi lại thanh gươm thần. Khi chiếc thuyền chèo ra giữa hồ thì tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏi làn nước xanh. Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Vua đứng lên và nhận thấy lưỡi gươm thần đeo bên mình cũng đang cử động. Con rùa vàng không sợ người, nhô thêm nữa, tiến sát về phía thuyền vua. Nó đứng nổi trên mặt nước và nói:
-Bệ hạ hoàn gươm lại cho Long quân!
Nghe nói thế nhà vua bỗng hiểu ra, bèn thò tay rút gươm ra khỏi bao. Chỉ một lát, thanh gươm thần rời khỏi tay vua bay đến phía rùa vàng. Nhanh như cắt, rùa ngước đầu lên, há miệng đớp lấy ngang lưỡi gươm. Cho đến khi cả gươm và rùa lặn xuống, người ta vẫn thấy có vệt sáng le lói dưới mặt nước hồ xanh. Khi những chiếc thuyền của bá quan tiến lên kịp thuyền rồng thì vua liền báo ngay cho họ biết:
-Đức Long quân cho chúng ta mượn thanh gươm thần để trừ giặc Minh. Nay đất nước đã thanh bình, người sai rùa lấy lại. Và từ đó, hồ bắt đầu được mang tên là hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.
III. ĐỒNG DAO
1 .
Trời mưa cho mối bắt gà,
Thòng đong cân cấn đuổi
cò lao xao.
IV . CA DAO
1 . Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
2 . Gió mùa thu mẹ ru con ngủ
Năm canh chầy thức đủ vừa năm
Năm canh chầy thức đủ vừa năm
3 . Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ,
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn,
Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn,
Hỏi ai gây dựng nên non nước này?
Ra đi ngó trước ngó sau,
Ngó nhà thấy cột, ngó nhau thấy buồn.
Ra đường bà nọ bà kia,
Về nhà không khỏi cái nia cái sàng.
Ra đường võng lộng nghêng ngang,
Về nhà hỏi vợ cơm rang đâu rồi ?
Ra sông mới biết cạn sâu,
Ở trong lạch hói, biết đâu mà dò.
Ra về bụng nhớ người thương,
Tay vỗ thanh giường chép miệng thở than!
Ra về ruột nọ quặn đau
Nhơn sâm sắc uống mấy tàu cho nguôi.
Rau muống bắt cuống rau răm,
Làm chi đến nỗi chàng cầm cổ tay.
Rau răm đất cứng dễ bứng khó trồng,
Dù thương cho lắm cũng chồng người ta.
Rau răm hái ngọn còn tươi,
Lạng nghe anh nói mấy lời mà cay.
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn,
Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn,
Hỏi ai gây dựng nên non nước này?
Ra đi ngó trước ngó sau,
Ngó nhà thấy cột, ngó nhau thấy buồn.
Ra đường bà nọ bà kia,
Về nhà không khỏi cái nia cái sàng.
Ra đường võng lộng nghêng ngang,
Về nhà hỏi vợ cơm rang đâu rồi ?
Ra sông mới biết cạn sâu,
Ở trong lạch hói, biết đâu mà dò.
Ra về bụng nhớ người thương,
Tay vỗ thanh giường chép miệng thở than!
Ra về ruột nọ quặn đau
Nhơn sâm sắc uống mấy tàu cho nguôi.
Rau muống bắt cuống rau răm,
Làm chi đến nỗi chàng cầm cổ tay.
Rau răm đất cứng dễ bứng khó trồng,
Dù thương cho lắm cũng chồng người ta.
Rau răm hái ngọn còn tươi,
Lạng nghe anh nói mấy lời mà cay.
C . GIAI ĐOẠN III
I . THƠ
1. Ảnh Bác
Nhà em treo ảnh
Bác Hồ
Bên trên là một
lá cờ
Ngày ngày Bác mỉm
miệng cười
Bác nhìn chúng
cháu vui chơi trong nhà
Ngoài sân có mấy
con gà
Ngoài vườn có mấy
quả na chín rồi
Em nghe như Bác
dạy lời
Cháu ơi đừng có
chơi bời đâu xa
Trồng rau, quét
bếp, đuổi gà
Thấy tàu bay Mĩ
nhớ ra hầm ngồi
Bác lo bao việc
trên đời
Ngày ngày Bác vẫn
mỉm cười với em...
( Trần Đăng
Khoa)
2 . Nàng tiên ốc
Xưa có một bà già nghèo
Chuyên mò cua bắt ốc
Một hôm bà bắt được.
Một con ốc xinh xinh
Vỏ nó biêng biếc xanh
Không giống như ốc khác
Bà thương không muốn bán.
Bèn thả vào trong chum.
Rồi bà lại đi làm.
Đến khi về thấy lạ
Sân nhà sao sạch quá
Đàn lợn đã được ăn
Cơm nước nấu tinh tươm
Vườn rau tươi sạch cỏ.
Bà già thất chuyện lạ
Bèn có ý rình xem
Thì thấy một nàng tiên
Bước ra từ chum nước.
Bà già liền bí mật.
Đập vỡ vỏ ốc xanh
Rồi ôm lấy nàng tiên
Không cho chui vào nữa
Hai mẹ con từ đó
Rất là yêu thương nhau
Xưa có một bà già nghèo
Chuyên mò cua bắt ốc
Một hôm bà bắt được.
Một con ốc xinh xinh
Vỏ nó biêng biếc xanh
Không giống như ốc khác
Bà thương không muốn bán.
Bèn thả vào trong chum.
Rồi bà lại đi làm.
Đến khi về thấy lạ
Sân nhà sao sạch quá
Đàn lợn đã được ăn
Cơm nước nấu tinh tươm
Vườn rau tươi sạch cỏ.
Bà già thất chuyện lạ
Bèn có ý rình xem
Thì thấy một nàng tiên
Bước ra từ chum nước.
Bà già liền bí mật.
Đập vỡ vỏ ốc xanh
Rồi ôm lấy nàng tiên
Không cho chui vào nữa
Hai mẹ con từ đó
Rất là yêu thương nhau
(Phan Thị Thanh Nhàn)
3. Mèo đi câu cá
Anh em mèo trắng
Vác giỏ đi câu
Em ngồi bờ ao
Anh ra song cái
Hiu hiu gió thổi
Buồn ngủ quá chừng
Mèo anh ngả lưng
Ngủ luôn một giấc
Lòng riêng thầm chắc
Đã có em rồi
Mèo em đang ngồi
Thấy bầy thỏ bạn.
Đùa chơi múa lượn
Vui quá là vui
Mèo nghĩ: ồ thôi
Anh câu cũng đủ.
Nghĩ rồi hớn hở
Nhập bọn vui chơi
Lúc ông mặt trời
Xuống núi đi ngủ
Đuôi mèo hối hả.
Quay về lều gianh
Giỏ em , giỏ anh
Không con cá nhỏ
Cả hai nhăn nhó
Cùng khóc meo meo.
Anh em mèo trắng
Vác giỏ đi câu
Em ngồi bờ ao
Anh ra song cái
Hiu hiu gió thổi
Buồn ngủ quá chừng
Mèo anh ngả lưng
Ngủ luôn một giấc
Lòng riêng thầm chắc
Đã có em rồi
Mèo em đang ngồi
Thấy bầy thỏ bạn.
Đùa chơi múa lượn
Vui quá là vui
Mèo nghĩ: ồ thôi
Anh câu cũng đủ.
Nghĩ rồi hớn hở
Nhập bọn vui chơi
Lúc ông mặt trời
Xuống núi đi ngủ
Đuôi mèo hối hả.
Quay về lều gianh
Giỏ em , giỏ anh
Không con cá nhỏ
Cả hai nhăn nhó
Cùng khóc meo meo.
( Thái Hòang Linh)
II. TRUYỆN
1 . Quả bầu tiên
Ngày xửa, ngày xưa có một chú bé con nhà nghèo, nhưng vô cùng
tốt bụng. Chú luôn luôn sẵn lòng giúp đỡ, chăm sóc mọi người, mọi vật xung
quanh mình. Vì thế cứ mỗi độ xuân về, chim chóc lại ríu rít kéo nhau tới làm
tổ, hót vang quanh nhà chú bé.
Một hôm có một con Cáo ở đâu mà tới bắt chim Én ở đầu nhà chú
bé. Con Én non nớt bị rơi xuống đất gãy cánh. Chú bé vội lao ra cứu con chim.
Chú ôm ấp vỗ về con Én nhỏ, làm cho nó một cái tổ khác và chăm cho con Én ăn.
Nhờ sự chăm sóc tận tình của chú bé, con Én đã khỏi đau. Mùa thu đến khi nhìn
lên trời thấy từng đàn Én hối hả bay đi tránh rét ở phương Nam, con Én nhỏ phân
vân nửa muốn bay theo đàn, nửa lại lưu luyến không nỡ rời chú bé.
Hiểu được lòng Én, chú bé âu yếm bảo:
-
Én cứ bay theo đàn đi kẻo mùa đông lạnh lắm. Đến mùa xuân ấm áp thì Én lại trở
về với anh.
Khi Én nhỏ gặp hoạn nạn, chú bé tốt bụng đã tận tình cưu mang và làm cho Én một 'ngôi nhà' thật xinh
2 . Cây tre trăm đốt
Ngày xưa, có một anh nông phu
nhà rất nghèo, phải đi ở cho một phú ông. Phú ông tính rất keo kiệt. Đối với kẻ
ăn người ở, hắn có rất nhiều mánh khóe để bòn công mà không phải trả thêm tiền.
Trong nhà hắn có một cô con gái chưa gả chồng. Thấy anh đầy tớ tuổi đã lớn mà
chưa có vợ, hắn vờ vịt:
- Cứ cố làm việc đi con ạ! Lão sẽ gả con gái cho!
Vốn tính thật thà nên khi nghe lời đường mật của chủ, anh chàng bỗng nuôi hy vọng làm rể phú ông. Từ đó, anh đổ sức ra làm việc không biết mệt. Trời chưa sáng anh đã lội bì bõm ở ngoài đồng; cho đến tận khuya vẫn còn trần lực xay lúa giã gạo, kéo trục, bện thừng, v.v... Bao nhiêu công việc của chủ giao, dù khó khăn nặng nhọc thế nào, anh cũng không từ chối.
Phú ông thấy mưu mình đắt thì mừng lắm. Đứa con gái của lão đời nào lão lại chịu gả cho hạng người như anh. Lão đã nhận lời gả cho con một nhà giàu ở làng bên cạnh vừa mang trầu cau đến chạm ngõ.
Song để giấu anh, lão bắt mọi người phải giữ kín. Còn anh, anh vẫn không nghi ngờ gì cả, vẫn quần quật làm việc và gửi gắm hy vọng vào ông chủ.
Lật đật mà ngày cưới của cô gái đã đến. Hôm ấy trong nhà phú ông người ta bày bàn dọn ghế, giết lợn mổ gà tấp nập. Để cho anh đầy tớ khỏi sinh sự lôi thôi làm lỡ cuộc vui của con mình, phú ông gọi anh đến và bảo:
- Con làm việc khá lắm, lão rất ưng ý. Hôm nay lão đã sửa soạn cỗ bàn rồi đây. Nhưng mà con cũng phải có gì làm sính lễ mới được. Ta không đòi tiền bạc ruộng vườn gì cả. Cứ lên rừng chọn cây tre nào có một trăm đốt chặt mang về đây, lão sẽ cho làm lễ thành hôn. Nếu không có thì lão gả cho người khác đấy!
Anh chàng đứng ngẩn người ra một lúc, nhưng sau đó người ta thấy anh cầm rựa cắm cúi ra đi. Lên rừng, anh cố tìm những bụi tre cao rồi lách vào mà chặt. Nhưng mỗi một cây tre ngả xuống là một lần anh thất vọng. Tre trông cao ngất ngưởng là thế nhưng nhiều lắm cũng chỉ đến bốn mươi đốt là cùng.
Tuy vậy, anh vẫn không chịu nản. Anh lại luồn vào những nơi hiểm hóc có những bụi tre già, và mặc cho gai tre tua tủa cào rách cả áo, toạc cả da, anh vẫn không bận tâm, chỉ mong có một cây tre trăm đốt để mang về làm lễ dâng lên bố vợ. Anh giơ cao rựa chặt lấy chặt để. Nhưng tất cả những cây ngả xuống, đếm đi đếm lại cũng chỉ hơn những cây trước chừng dăm bảy đốt là cùng. Buồn rầu quá đỗi, anh quẳng rựa xuống đất, ngồi khóc nức nở.
Tiếng khóc của anh vang động cả núi rừng. Nghe tiếng khóc, Bụt hiện lên trước mặt, hỏi:
- Con là ai? Cớ sao lại ngồi đây mà khóc?
Anh gạt nước mắt kể lể sự tình cho Bụt nghe. Nghe đoạn, Bụt bảo:
- Con đừng khóc nữa. Hãy đi chặt lấy một trăm đốt tre mang về đây cho ta.
Anh nông phu lập tức làm theo lời Bụt dặn. Nhưng khi mang đủ một trăm đốt tre về, thì anh lại khóc:
- Sao con lại khóc?
Anh trả lời Bụt:
- Phú ông bảo con chặt cây tre có một trăm đốt, chứ không phải chặt một trăm đốt tre!
Bụt yên ủi, rồi bày cho anh sắp một trăm đốt tre lại thành một hàng và hô mấy tiếng: - "Khắc nhập! Khắc nhập!". Anh làm theo lời thì màu nhiệm thay, khi mấy tiếng hô vừa phát ra, anh đã thấy tất cả các đốt tre dính vào nhau như là từ một cây sinh ra vậy. Hết sức mừng rỡ, anh vội chạy lại định mang tre về, nhưng dù lấy hết gân sức, cũng không tài nào đỡ lên vai và quay trở được. Loay hoay mãi, cuối cùng anh buông tre rồi ngồi phịch xuống đất khóc. Bụt lại hỏi:
- Làm sao con lại khóc nữa?
- Cây tre dài quá, anh đáp. Con không làm sao mà đưa về nổi.
Bụt lại bảo anh hô lên mấy tiếng: - "Khắc xuất! Khắc xuất!". Anh vừa hô xong thì cũng mầu nhiệm không kém gì lần trước, những đốt tre tự nhiên rời ra ngay. Anh mừng quá, hết lời cảm ơn Bụt, rồi xếp tre làm hai bó, quảy ra khỏi cửa rừng.
Anh về đến nhà, giữa lúc hai họ đang cỗ bàn linh đình, cô dâu chú rể sắp bước vào lễ cưới. Anh lẳng lặng đặt gánh tre giữa sân rồi gọi phú ông ra nhận sính lễ. Thấy các đốt tre, phú ông vội quát:
- Tao bảo mày chặt cho được một cây tre trăm đốt, chứ có phải chặt một trăm đốt tre đâu! Rõ ngớ ngẩn!
Chẳng nói chẳng rằng, anh nông phu luôn miệng hô: - "Khắc nhập! Khắc nhập!". Các đốt tre lần lượt chạy ra khỏi bó rồi dính vào nhau thành một cây cao ngất nghểu. Phú ông tức mình chạy lại định lay cây tre cho nó rời ra, nhưng những tiếng "khắc nhập" từ miệng anh hô có phép làm cả người phú ông bỗng dính liền vào cây tre như là một đốt nối thêm vào vậy. Phú ông kêu la ầm ỹ. Tiếng kêu oai oái làm cho hai họ hốt hoảng đổ ra sân. Chàng rể là người đầu tiên chạy đến định gỡ cho hố vợ, nhưng hai tiếng "khắc nhập" của anh nông phu lại làm cho người hắn dính liền vào cây và đội phú ông lên đầu. Đến lượt ông thông gia đến gỡ con ra cũng bị dính vào nốt. Tiếp đó, họ nhà trai nhà gái cứ mỗi người xông vào gỡ là một lần bị dính cứng vào tre. Trong khi mọi người sợ xanh cả mắt thì anh đầy tớ vẫn bình thản đứng ở góc sân để đợi phú ông trả lời. Cuối cùng, phú ông đành phải van lạy xin được thả ra và hứa sẽ gả con gái cho anh, không dám nuốt lời nữa.
Bấy giờ anh chàng bèn hô lên mấy tiếng: - "Khắc xuất! Khắc xuất!". Lập tức, phú ông và mọi người rời khỏi cây tre. Sau đó chàng rể cùng họ nhà trai cắp gói ra về. Còn anh nông phu từ đó được vợ như mong ước.
- Cứ cố làm việc đi con ạ! Lão sẽ gả con gái cho!
Vốn tính thật thà nên khi nghe lời đường mật của chủ, anh chàng bỗng nuôi hy vọng làm rể phú ông. Từ đó, anh đổ sức ra làm việc không biết mệt. Trời chưa sáng anh đã lội bì bõm ở ngoài đồng; cho đến tận khuya vẫn còn trần lực xay lúa giã gạo, kéo trục, bện thừng, v.v... Bao nhiêu công việc của chủ giao, dù khó khăn nặng nhọc thế nào, anh cũng không từ chối.
Phú ông thấy mưu mình đắt thì mừng lắm. Đứa con gái của lão đời nào lão lại chịu gả cho hạng người như anh. Lão đã nhận lời gả cho con một nhà giàu ở làng bên cạnh vừa mang trầu cau đến chạm ngõ.
Song để giấu anh, lão bắt mọi người phải giữ kín. Còn anh, anh vẫn không nghi ngờ gì cả, vẫn quần quật làm việc và gửi gắm hy vọng vào ông chủ.
Lật đật mà ngày cưới của cô gái đã đến. Hôm ấy trong nhà phú ông người ta bày bàn dọn ghế, giết lợn mổ gà tấp nập. Để cho anh đầy tớ khỏi sinh sự lôi thôi làm lỡ cuộc vui của con mình, phú ông gọi anh đến và bảo:
- Con làm việc khá lắm, lão rất ưng ý. Hôm nay lão đã sửa soạn cỗ bàn rồi đây. Nhưng mà con cũng phải có gì làm sính lễ mới được. Ta không đòi tiền bạc ruộng vườn gì cả. Cứ lên rừng chọn cây tre nào có một trăm đốt chặt mang về đây, lão sẽ cho làm lễ thành hôn. Nếu không có thì lão gả cho người khác đấy!
Anh chàng đứng ngẩn người ra một lúc, nhưng sau đó người ta thấy anh cầm rựa cắm cúi ra đi. Lên rừng, anh cố tìm những bụi tre cao rồi lách vào mà chặt. Nhưng mỗi một cây tre ngả xuống là một lần anh thất vọng. Tre trông cao ngất ngưởng là thế nhưng nhiều lắm cũng chỉ đến bốn mươi đốt là cùng.
Tuy vậy, anh vẫn không chịu nản. Anh lại luồn vào những nơi hiểm hóc có những bụi tre già, và mặc cho gai tre tua tủa cào rách cả áo, toạc cả da, anh vẫn không bận tâm, chỉ mong có một cây tre trăm đốt để mang về làm lễ dâng lên bố vợ. Anh giơ cao rựa chặt lấy chặt để. Nhưng tất cả những cây ngả xuống, đếm đi đếm lại cũng chỉ hơn những cây trước chừng dăm bảy đốt là cùng. Buồn rầu quá đỗi, anh quẳng rựa xuống đất, ngồi khóc nức nở.
Tiếng khóc của anh vang động cả núi rừng. Nghe tiếng khóc, Bụt hiện lên trước mặt, hỏi:
- Con là ai? Cớ sao lại ngồi đây mà khóc?
Anh gạt nước mắt kể lể sự tình cho Bụt nghe. Nghe đoạn, Bụt bảo:
- Con đừng khóc nữa. Hãy đi chặt lấy một trăm đốt tre mang về đây cho ta.
Anh nông phu lập tức làm theo lời Bụt dặn. Nhưng khi mang đủ một trăm đốt tre về, thì anh lại khóc:
- Sao con lại khóc?
Anh trả lời Bụt:
- Phú ông bảo con chặt cây tre có một trăm đốt, chứ không phải chặt một trăm đốt tre!
Bụt yên ủi, rồi bày cho anh sắp một trăm đốt tre lại thành một hàng và hô mấy tiếng: - "Khắc nhập! Khắc nhập!". Anh làm theo lời thì màu nhiệm thay, khi mấy tiếng hô vừa phát ra, anh đã thấy tất cả các đốt tre dính vào nhau như là từ một cây sinh ra vậy. Hết sức mừng rỡ, anh vội chạy lại định mang tre về, nhưng dù lấy hết gân sức, cũng không tài nào đỡ lên vai và quay trở được. Loay hoay mãi, cuối cùng anh buông tre rồi ngồi phịch xuống đất khóc. Bụt lại hỏi:
- Làm sao con lại khóc nữa?
- Cây tre dài quá, anh đáp. Con không làm sao mà đưa về nổi.
Bụt lại bảo anh hô lên mấy tiếng: - "Khắc xuất! Khắc xuất!". Anh vừa hô xong thì cũng mầu nhiệm không kém gì lần trước, những đốt tre tự nhiên rời ra ngay. Anh mừng quá, hết lời cảm ơn Bụt, rồi xếp tre làm hai bó, quảy ra khỏi cửa rừng.
Anh về đến nhà, giữa lúc hai họ đang cỗ bàn linh đình, cô dâu chú rể sắp bước vào lễ cưới. Anh lẳng lặng đặt gánh tre giữa sân rồi gọi phú ông ra nhận sính lễ. Thấy các đốt tre, phú ông vội quát:
- Tao bảo mày chặt cho được một cây tre trăm đốt, chứ có phải chặt một trăm đốt tre đâu! Rõ ngớ ngẩn!
Chẳng nói chẳng rằng, anh nông phu luôn miệng hô: - "Khắc nhập! Khắc nhập!". Các đốt tre lần lượt chạy ra khỏi bó rồi dính vào nhau thành một cây cao ngất nghểu. Phú ông tức mình chạy lại định lay cây tre cho nó rời ra, nhưng những tiếng "khắc nhập" từ miệng anh hô có phép làm cả người phú ông bỗng dính liền vào cây tre như là một đốt nối thêm vào vậy. Phú ông kêu la ầm ỹ. Tiếng kêu oai oái làm cho hai họ hốt hoảng đổ ra sân. Chàng rể là người đầu tiên chạy đến định gỡ cho hố vợ, nhưng hai tiếng "khắc nhập" của anh nông phu lại làm cho người hắn dính liền vào cây và đội phú ông lên đầu. Đến lượt ông thông gia đến gỡ con ra cũng bị dính vào nốt. Tiếp đó, họ nhà trai nhà gái cứ mỗi người xông vào gỡ là một lần bị dính cứng vào tre. Trong khi mọi người sợ xanh cả mắt thì anh đầy tớ vẫn bình thản đứng ở góc sân để đợi phú ông trả lời. Cuối cùng, phú ông đành phải van lạy xin được thả ra và hứa sẽ gả con gái cho anh, không dám nuốt lời nữa.
Bấy giờ anh chàng bèn hô lên mấy tiếng: - "Khắc xuất! Khắc xuất!". Lập tức, phú ông và mọi người rời khỏi cây tre. Sau đó chàng rể cùng họ nhà trai cắp gói ra về. Còn anh nông phu từ đó được vợ như mong ước.
3. Tấm Cám
Ngày xưa có một cô gái xinh đẹp, hiền hậu tên là Tấm. Vì mẹ mất sớm nên cha cô tục huyền với một người đàn bà khác. Rồi sau đó cha cô cũng qua đời nốt. Tấm đành phải ở với bà dì ghẻ. Bà này cũng có một cô con gái trạc bằng tuổi nàng tên là Cám.
Ngày ngày Tấm phải đảm đương hết mọi công việc nặng nhọc trong nhà, kể cả việc lùa trâu ra đồng ăn cỏ.
Trong lúc đó thì Cám được mẹ nuông chiều không phải làm gì, suốt ngày chỉ biết ăn uống rồi đi rong chơi.
Một hôm bà dì ghẻ gọi cả Tấm và Cám vào rồi bảo:
- Hôm nay hai đứa ra ao bắt cá bắt tép, đứa nào được nhiều thì sẽ được thưởng, còn đứa nào lười biếng sẽ bị ăn đòn đấy, nghe chưa?
Tấm nghe lời dì, ra ao mải mê bắt cá, không dám nghỉ ngơi, còn Cám thì vốn lười biếng, lại ỷ vào tình thương của mẹ, nên đuổi bướm hái hoa chán rồi lăn ra ngủ.
Đến chiều Tấm vui vẻ bảo Cám:
- Chị bắt cá đầy giỏ rồi, mình về thôi Cám!
Cám nhìn vào cái giỏ trống không của mình, lòng thầm nghĩ:
- Chẳng có con nào, thế nào mẹ cũng mắng. Ta phải tìm cách cướp cá tép của Tấm mới được.
Nghĩ vậy, Cám liền nói với Tấm:
- Chị Tấm ơi! Đầu chị đầy bùn trông xấu lắm! Chị xuống gội đầu cho sạch rồi về cũng không muộn!
Tấm nghe Cám nói thì tin lời ngay, bỏ giỏ xuống, lội ra chỗ nước trong gội đầu, không một mảy may nghi ngờ.
Cám liền trút hết cá của Tấm vào giỏ của mình và vội vàng bỏ về trước.
Khi trở lên bờ, Tấm thấy giỏ cá của mình lăn lóc bên cạnh bờ ao thì khóc sướt mướt vì nghĩ đến trận đòn hôm nay.
Đúng lúc đó thì ông Bụt hiện ra nói với Tấm:
- Con đừng khóc nữa! Hãy xem trong giỏ còn con cá nào không? Ông sẽ tìm cách giúp cho.
Tấm ngưng khóc tìm trong giỏ và đáp:
- Thưa ông, còn sót lại một con cá bống nhỏ ạ!
Ông tiên cười vuốt râu nói:
- Vậy cũng tốt! Con hãy đem con cá bống đó về thả xuống giếng đi. Ta sẽ dạy
cho con câu này để gọi nó lên ăn cơm. Sau này nó sẽ giúp con.
Tấm nghe lời ông Bụt, ngày ngày để dành cơm đem đến rồi gọi:
- Bống bống bang bang, lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta. Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.
Bà mẹ ghẻ và cô Cám nghi ngờ nên bà bảo Cám:
- Con rình xem nó làm gì mà ngày nào cũng thậm thụt ngoài giếng hoài vậy?
Cám nghe lời mẹ, theo dõi Tấm và biết được sự việc liền nói với mẹ.
Qua hôm sau, bà mẹ sai Tấm lùa trâu đi vào núi ăn cỏ. Ở nhà, mẹ con Cám bắt chước Tấm gọi cá lên cho ăn rồi vớt lấy cá đem vào bếp làm thịt.
Chiều Tấm về gọi cá lên cho ăn, gọi mãi không thấy cá đâu, mà chỉ thấy một cục máu nổi lên, nàng sợ hãi bật khóc:
- Trời ơi! Cá bống mất rồi, hu hu...
Bụt lại hiện ra hỏi vì sao, Tấm đáp:
- Dạ thưa ông, người ta bắt mất bống của con rồi!
- Thôi, hãy về nhặt xương của nó bỏ vào lọ, đem chôn ở chân giường, sau này con sẽ cần đến nó!
Tấm nghe lời vào nhà tìm, nhưng nàng chẳng thấy mảnh xương nào cả. Chợt một con gà trống bay vào nói:
- Cục ta cục tác, cho ta nắm thóc, ta móc xương cho!
Tấm liền cho nó một nắm thóc, tức thì nó bươi trong đống tro văng ra xương cá. Nàng đem chôn đúng chỗ ông Bụt dạy.
Một thời gian sau, mọi người nô nức rủ nhau đi xem hội. Bà mẹ ngại Tấm đòi đi theo liền trộn chung đậu và gạo với nhau rồi bảo Tấm:
- Muốn đi dự hội thì hãy nhặt hết đậu trộn trong gạo chia ra làm hai phần rồi mới được đi nghe chưa?
Tấm cầm nia gạo trộn đậu mà rơi nước mắt nhìn theo hai mẹ con Cám. Nàng chỉ biết than thở:
- Ôi! Sao ta lại khổ thế này? Hu hu...
Nghe vậy, Bụt lại hiện ra:
- Ta biết con thích đi dự hội nên đến giúp đây! Con hãy đặt nia gạo ra sân ta sẽ cho bầy chim xuống nhặt cho.
Tấm liền làm theo lời ông Bụt và gọi:
- Chim sẻ ơi! mau xuống giúp ta!
Một đàn chim từ trời cao kéo xuống nhanh nhẹn nhặt đậu và gạo giúp nàng. Trong chốc lát gạo và đậu đã được tách riêng ra hai bên gọn gàng.
Ông Bụt lại nói với Tấm:
- Bây giờ con hãy đào lọ chôn xương cá lên! Con sẽ tìm được những thứ mà con mong ước!
Tấm vội làm theo lời của Bụt, đào chiếc lọ lên và nàng thấy có nhiều thứ quý giá ở bên trong. Nàng vô cùng ngạc nhiên và vui mừng bảo:
- Ồ! Áo đẹp quá! lại có cả đôi hài nhung dễ thương này nữa!
Tấm vừa cầm áo ra khỏi lọ, thì một con ngựa bé tí cũng chui ra. Nàng thốt lên:
- Ôi! Lại có cả ngựa! Nhưng sao nó bé xíu thế nhỉ? Làm sao cháu đi được?
Tấm vừa dứt lời thì con ngựa đã biến thành một con ngựa trắng, to lớn khỏe mạnh với các bộ yên cương rất đẹp.
Tấm liền tắm rửa, thay áo quần và đi hài vào. Tất cả mọi thứ đều vừa vặn y như là của nàng.
Sau đó Tấm lên ngựa, con thần mã lao đi vun vút, chẳng mấy chốc đã đến kinh đô. Nhưng khi phóng qua một vũng nước, Tấm đánh rơi một chiếc giày xuống nước mà không kịp nhặt.
Khi ngựa dừng lại ở đám hội, Tấm lấy khăn gói chiếc giày còn lại rồi chen vào trong đám người dự lễ.
Lúc ấy đoàn tùy tùng đưa nhà vua cũng vừa đến. Con voi vua ngự không chịu đi qua vũng nước, nhà vua ngạc nhiên hỏi:
- Lạ nhỉ! Sao đến đây nó không chịu đi nữa? Các khanh tìm xem quanh đây có điều gì lạ không?
Quân lính sục sạo mọi ngõ ngách và tìm ra chiếc hài nhỏ dâng lên vua. Nhà vua nhìn chiếc hài nghĩ:
- Chủ nhân của chiếc hài nhỏ xíu này chắc chắn phải là một trang tuyệt sắc.
Lập tức vua hạ lệnh rao mời tất cả đám đàn bà con gái dự hội đến ướm thử, hễ ai đi vừa chiếc hài thì vua sẽ lấy làm vợ.
Lệnh vừa được truyền ra, các cô gái vô cùng nao nức. Ai cũng mong mình được thử hài trước. Dĩ nhiên mẹ con của Cám cũng chen chân vào có mặt để thử cùng các cô gái khác, nhưng chẳng có người nào mang vừa.
Đến khi Tấm đặt chân vào hài thì vừa vặn như in. Nàng mở khăn lấy luôn chiếc thứ hai đi vào. Hai chiếc giống nhau như đúc. Bọn lính hầu hò reo vui mừng.
Lập tức, vua sai đoàn thị nữ rước nàng vào cung để tấn phong làm Hoàng hậu. Tấm bước lên kiệu trước con mắt ngạc nhiên và hằn học của mẹ con Cám.
Tuy sống sung sướng trong hoàng cung, nhưng Tấm vẫn không quên ngày giỗ cha nên xin vua về thăm nhà.
Nhìn thấy gương mặt Tấm rạng ngời, quần áo võng lọng cao sang. Mẹ con Cám ganh tỵ vô cùng, bà ta nói với Cám:
- Mẹ sẽ tìm cách cho con thế vào ngôi hoàng hậu. Con hãy tin vào mẹ!
Bà giả vờ vui vẻ, ân cần nói với Tấm:
- Cha con lúc sinh thời rất thích ăn trầu, nhưng hôm nay mẹ mua mà chợ không có cau. Trước đây con quen trèo cau, nay con hãy trèo lên hái lấy một buồng để cúng cho cha con vui lòng.
Tấm rất thương cha nên đồng ý ngay, nàng thay áo quần leo lên cây cau. Đợi cho nàng trèo đến ngọn, bà dì ghẻ vội lấy rựa chặt gốc cây cau.
Tấm thấy cây rung chuyển quá thì hốt hoảng hỏi vọng xuống:
- Dì làm gì dưới gốc cây thế?
- Gốc cây lắm kiến, dì đuổi chúng đi ấy mà! Để cho nó khỏi lên đốt con.
Tấm chưa kịp hái lấy buồng cau thì cây đã đổ, ngã lộn cổ xuống ao chết ngay. Mụ dì ghẻ liền lấy áo quần của Tấm cho Cám mặc rồi đưa vào cung, nói dối với Vua là Tấm bị chết đuối, đưa em vào thế chị.
Vua nghe nói trong bụng không vui, song vì thương Tấm nên đành phải cho Cám vào cung.
Một hôm, Cám đang phơi áo nhà vua thì có con chim Vàng Anh bay đến hót:
- Phơi áo chồng tao, phơi lao, phơi sào. Chớ phơi hàng rào rách áo chồng tao.
Nhà vua đang nhớ Tấm, vừa đi đến thì nghe tiếng chim hót liền bảo:
- Vàng Ảnh Vàng Anh! Có phải vợ anh! Chui vào tay áo!
Lạ lùng thay, chim lập tức bay vào tay áo nhà vua. Từ đó nhà vua mê mãi chơi với chim, không đoái hoài gì đến Cám.
Cám tức lắm về nhà méc với mẹ, bà mẹ xúi Cám tìm bắt và giết chim, ném lông ra sau vườn. Chỗ ấy liền mọc lên một cây xoan, mỗi khi nhà vua đi đến, cây xoan cúi mình xuống xòe tàn che bóng cho vua. Cám căm tức liền sai quân đốn cây xoan ấy làm khung cửi rồi đốt đi, rắc tro ra ngoài thành. Chỗ ấy lại mọc lên một cây thị, đến mùa chỉ đậu có một quả.
Hôm nọ có bà lão bán hàng nước ở gần đó đi ngang qua, thấy quả thị thơm quá, liền giơ bị ra và nói lẩm bẩm:
- Thị ơi thị hỡi, rụng vô bị bà, bà đem bà ngửi, chứ bà không ăn...
Bà lão vừa dứt lời thì quả thị rụng ngay xuống đúng vào bị. Bà nâng niu đem về nhà, cất trong buồng, thỉnh thoảng lại vào ngắm nghía và ngửi mùi thơm.
Một hôm bà lão đi bán về, ngạc nhiên khi nhìn thấy cảnh tượng trong nhà:
- Lạ nhỉ! Ai lại nấu cơm dọn sẵn cho mình thế này? Nhà cửa lại quét dọn ngăn nắp sạch sẽ nữa... Lạ quá!
Từ đó ngày nào về bà cũng thấy như vậy. Lòng vô cùng thắc mắc, bà nghĩ:
- Mình phải theo dõi xem ai lại giúp mình như thế! Chắc chắn thế nào cũng sẽ tìm ra...
Hôm sau bà giả vờ đi bán rồi đáo trở về nhà, ngồi núp ở cửa. Bà thấy chỗ chiếc hũ đựng trái thị có một cô gái bé nhỏ chui ra, trong chớp mắt cô bé ấy hóa lớn thành ra cô Tấm. Cô đi dọn dẹp và nấu cơm. Bà lão không thể chờ hơn được nữa, tông cửa chạy vào ôm choàng lấy cô:
- Bà giữ được con rồi! Không được đi đâu nữa đấy!
Rồi bà vội tìm trái thị xé vụn ra, không cho Tấm ẩn vào nữa:
- Con hãy cứ ở đây với ta, và hãy xem ta như mẹ của con vậy! Một mình mẹ ở đây buồn lắm, đừng từ chối mẹ nhé!
Từ đó hai mẹ con sống với nhau rất là đầm ấm. Ngày ngày Tấm lo việc nhà và têm trầu cho bà đi bán.
Nhà vua vì buồn quá nên thường ra ngoài cung đi dạo. Một hôm khi đi ngang qua hàng nước của bà, nhà vua dừng lại nói với đoàn tùy tùng:
- Ta vào đây uống chén chè xanh cho mát đã!
Khi dâng nước xong, bà lão vội đem trầu dâng vua. Nhà vua ngạc nhiên nhìn miếng trầu têm hình cánh phượng, giống hệt như Tấm ngày xưa, nên vội hỏi:
- Trầu này ai têm mà khéo thế?
Bà lão liền thưa:
- Muôn tâu hoàng thượng, trầu này do con gái của già têm.
- Bà mau gọi con gái ra đây cho ta gặp gấp! Chỉ có vợ ta mới têm trầu khéo như thế này thôi...!
Bà lão liền quay về dẫn cô gái đến, nhà vua ngẩn ngơ kêu lên:
- Chính là nàng Tấm vợ ta đây mà! Có phải thế không? Sao lâu nay nàng bỏ ta mà đi, không một lần trở về?
Tấm cúi đầu không đáp. Nghe bà lão kể lại đầu đuôi câu chuyện, nhà vua vui mừng ôm Tấm và đưa nàng trở về cung.
Thấy Tấm trở về xinh đẹp hơn xưa, Cám sợ hãi vội lân la làm hòa với Tấm. Cô ta hỏi:
- Chị Tấm ơi! Sao da chị trắng thế? Chị có cách gì chỉ cho em với!
Tấm mỉm cười độ lượng, nàng nói giỡn với Cám:
- À nhờ chị tắm bằng nước sôi đấy!
Ngờ đâu Cám tưởng thật liền đun một chảo nước sôi để tắm. Thế là hết đời của một kẻ gian manh.
Ở trong cung, Cám bị rất nhiều người oán ghét vì thói kênh kiệu của cô ta, nên họ bàn nhau đem xác Cám làm mắm rồi bỏ vào chĩnh gửi về biếu bà mẹ độc ác, bảo rằng đây là quà của Cám gửi tặng. Bà mẹ tưởng thật, ngày nào cũng đem mắm ra ăn rồi khen:
- Thiệt là ngon, con mình làm mắm khéo quá!
Một con quạ nghe mùi người chết từ đâu bay đến nóc nhà kêu rằng:
- Ngon ngỏn ngòn ngon, mẹ ăn thịt con, có còn xin miếng!
Mụ ta giận dữ, đuổi quạ đi, nhưng khi nhìn vào chỉnh thấy đầu con mình thì lăn đùng ra chết, thật đáng đời một kẻ gian tham và ác độc...
4 . Chàng rùa
Ngày xưa có hai vợ chồng nhà kia hiếm hoi mãi mới sinh ra được một đứa con lại là một chú Rùa bé tí ti. Hai vợ chồng buồn quá định vứt đi nhưng Rùa nói:
- Con là con của bố mẹ, bố mẹ đừng vứt con đi.
Thấy vậy, hai vợ chồng liền để Rùa lại nuôi. Rùa ăn ít như mèo, ăn xong lại ngủ một xó.
Mùa đông năm ấy, vua xây nhà. Vua bắt gia đình nào cũng phải đi phu, vác đất, vác gỗ làm nhà cho vua. Ai không đi sẽ bị tội nặng. Rùa nghe được liền bò đến bàn với mẹ:
- Bố mẹ già rồi, cứ ở nhà mà nghỉ ngơi, để con đi làm cho nhà vua thay bố mẹ.
Mẹ Rùa lắc đầu nhìn con không tin. Nhưng nghe giọng Rùa quả quyết, bà cũng lấy dao buộc vào lưng cho Rùa như người đi rừng.
Nơi vua làm nhà, người đi lại chật đường. Rùa bò giữa đám đông, lâu lâu lại nghe người ta bàn tán với nhau, thắc mắc tại sao không thấy bố mẹ Rùa đi làm cho nhà vua. Sợ những lời bàn tán của bà con sẽ đến tai vua thì vua bắt tội bố mẹ. Rùa bèn ngửng đầu lên nói to:
- Thưa bà con, cô bác, bố mẹ cháu già yếu rồi không đi làm cho vua được nữa, vì vậy cháu đi làm thay.
Nghe tiếng Rùa nói, mọi người nhìn xuống đất rồi cười lớn.
- Rùa bé thế này, làm nhà sao được. Tránh ra cho các cô, các bác làm nếu không người đông, người ta giẫm vỡ mai mất.
Rùa khiêm tốn đáp:
- Các cô, các bác lớn thì vác cây gỗ lớn, cháu nhỏ thì vác cây gỗ nhỏ thôi, có sao đâu!
Mọi người lên rừng, Rùa cũng lên rừng. Người lớn vác những cây gỗ to bằng cái cột. Rùa bé, Rùa vác cây gỗ bằng ngón tay, mọi người lại xì xào, cười cây gỗ của Rùa nhưng Rùa không nói gì cứ im lặng. Vác được cây gỗ nào về, Rùa lại xếp vào một đống riêng. hết ngày Rùa mới đến bên đống gỗ ghé miệng thổi “phù, phù” mấy cái thì lạ chưa những cây gỗ tự nhiên to lên khác thường. Có cây to gấp ba gấp bốn lần những cây gỗ của những người lớn vác, khiến ai cũng ngạc nhiên.
Vác gỗ xong, mọi người bắt tay vào làm nhà. Nhà của vua định làm to quá, mọi người phải làm mãi không xong, ai cũng sốt ruột muốn về nhà. Thấy mọi người chán nản, Rùa nói với mọi người là cứ tâu với vua để cho Rùa làm một mình, Rùa cam đoan là Rùa chỉ làm một ngày là xong.
Nghe Rùa nói, mọi người không tin nhưng vì muốn chóng được về nhà nên có người đem lời Rùa nói kể lại với vua.
Vua gọi Rùa tới bảo:
- Rùa làm nhà cho ta xong sớm thì ta sẽ trả cho nhiều tiền công rồi ta cho về với bố mẹ. Nếu Rùa không làm được thì ta sẽ nọc Rùa ra đánh đủ trăm roi.
Rùa không nói gì, bắt tay vào việc. Nhờ có bạn bè của Rùa giúp sức, Rùa chỉ làm đúng một ngày là xong nhà của vua. Rùa mời vua đến nhận nhà. Nhìn ngôi nhà nguy nga đồ sộ vua thích lắm. Nhưng lòng tham nổi lên, vua không trả tiền công cho Rùa, không cho Rùa về với bố mẹ như lời vua đã hứa và lại bắt Rùa làm cho vua một ngôi nhà nữa. Rùa nhận lời nhưng ra điều kiện là trong lúc Rùa đi lấy gỗ thì vua phải giữ mai cho Rùa không được làm mất.
Vua đồng ý. Thế là Rùa liền trút mai, vươn vai ba lần và hóa thành một chàng trai khỏe mạnh xinh đẹp, chuẩn bị đi vác gỗ. Thấy lạ, vua tò mò hỏi Rùa:
- Thế bây giờ ta muốn vào nằm thử trong mai rùa có được không?
Rùa đáp:
- Được.
Tên vua dại dột liền chui vào mai rùa nằm thử, chàng trai bỗng nói: “Khép lại! Khép lại”, mai rùa tự nhiên khép chặt lại, tên vua gian ác tham lam biến thành con rùa. Xấu hổ quá, hắn phải bò lên rừng, đói thì kiếm mộc nhĩ ăn. Còn chàng Rùa thì được mọi người tôn lên làm vua. Chàng đón bố mẹ về ở với mình và đối với bố mẹ rất hiếu thảo.
III. CA DAO
1 . 'Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ'
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ'
2 . 'Hồ Tịnh Tâm nhiều sen Bách Hợp
Đất Hương Cần ngọt quýt thơm cam'
Đất Hương Cần ngọt quýt thơm cam'
3. 'Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang'
Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang'
4. 'Chiều chiều mây phủ Hải Vân
Chim kêu ghành đá, tủi thân thêm buồn'
Chim kêu ghành đá, tủi thân thêm buồn'
5. 'Đi bộ thì khiếp Hải Vân
Đi thuyền thì sợ sóng thần Hang Dơi'
Đi thuyền thì sợ sóng thần Hang Dơi'
6 . gự Bình trước tròn sau méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Dẫu ai ăn ở hai lòng
Em đây vẫn một dạ thủy chung với chàng'
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Dẫu ai ăn ở hai lòng
Em đây vẫn một dạ thủy chung với chàng'
*
'Núi Truồi ai đắp nên cao?
Sông Gianh ai bới, ai đào, mà sâu ?'
'Núi Truồi ai đắp nên cao?
Sông Gianh ai bới, ai đào, mà sâu ?'
7 . 'Ngọ Môn năm cửa, chín lầu
Cột Cờ ba bậc, Phú Văn Lâu hai tầng'
*
'Đi mô cũng nhớ quê mình
Nhớ Hương Giang gió mát, nhớ Ngự Bình trăng thanh'
Cột Cờ ba bậc, Phú Văn Lâu hai tầng'
*
'Đi mô cũng nhớ quê mình
Nhớ Hương Giang gió mát, nhớ Ngự Bình trăng thanh'
8 .'Gió đưa cành trúc la đà
Tiêng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương'
Tiêng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương'
9. 'Thuyền về Đại Lược
Duyên ngược Kim Long
Đến nơi đây là ngả rẽ của lòng
Biết nơi mô bến đục, bến trong cho em nhờ?'
Duyên ngược Kim Long
Đến nơi đây là ngả rẽ của lòng
Biết nơi mô bến đục, bến trong cho em nhờ?'
10. 'Chiều chiều, trước Bến Văn Lâu
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non'
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non'
11. 'Vạn Niên là Vạn Niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân'
Thành xây xương lính, hào đào máu dân'
'Được mùa chớ phụ ngô khoai
Đến khi Thân, Dậu lấy ai bạn cùng'
Đến khi Thân, Dậu lấy ai bạn cùng'
'Ai về cầu ngói Thanh Toàn
Cho em về với một đoàn cho vui'
Cho em về với một đoàn cho vui'
'Ru em cho thét, cho muồi
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim'
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim'
'Ước gì để lại mai sau
Một câu, một chữ, đượm màu dân gian'
Một câu, một chữ, đượm màu dân gian'
'Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương'
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương'
'Phất phơ ngọn cỏ trăng tà
Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương'
Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương'
'Cầu Tràng Tiền 6 vài, 12 nhịp
Anh qua không kịp, tội lắm, em ơi !
Nghĩa tào khang ai mà vội dứt
Đêm nằm tâm tức, lụy nhỏ tuôn rơi
Bấy lâu ni chịu tiếng mang lời
Dẫu có xa nhau đi nữa ...
Dẫu có xa nhau đi nữa ...
Cũng bởi ông trời mà xa.'
Anh qua không kịp, tội lắm, em ơi !
Nghĩa tào khang ai mà vội dứt
Đêm nằm tâm tức, lụy nhỏ tuôn rơi
Bấy lâu ni chịu tiếng mang lời
Dẫu có xa nhau đi nữa ...
Dẫu có xa nhau đi nữa ...
Cũng bởi ông trời mà xa.'
0 nhận xét:
Post a Comment