BLTTHS (sửa đổi) được thông qua ngày
18/11/2003 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI là một bước phát triển mới trong
quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta nói chung và pháp luật TTHS nói
riêng. Việc sửa đổi bổ sung BLTTHS lần này được tiến hành tương đối đồng bộ,
toàn diện và về cơ bản đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta theo
tinh thần Nghị quyết số 08/NQ-TƯ của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương
Đảng. Tuy nhiên, về cơ bản các quy định về Hội đồng xét xử phúc thẩm trong
BLTTHS sửa đổi vẫn như trước đây, do đó chưa khắc phục được những bất cập, tồn
tại và vướng mắc trong thực tiễn. Vì vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ về mặt lý
luận và các quy định pháp luật TTHS về Hội đồng xét xử phúc thẩm; chỉ ra những
bất cập, vướng mắc trong thực tiễn và nguyên nhân, trên cơ sở đó đưa ra được
các căn cứ khoa học nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định về Hội đồng xét xử
phúc thẩm vẫn là một yêu cầu cấp thiết của khoa học luật TTHS hiện nay.
Xét
xử phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai, trong đó Tòa án cấp trên thực tiếp xét xử
lại những vản án hoặc xét lại các quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
bị kháng cáo, kháng nghị. Và Hội đồng xét xử phúc thẩm là chủ thể có vai trò
trực tiếp thực hiện việc xét xử tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Hội
đồng xét xử là “Hội đồng bao gồm các Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân do Tòa án có thẩm quyền lập ra để nhân danh nhà nước
trực tiếp xét xử tại phiên tòa các vụ án và ra các bản án hoặc quyết định đối
với các vụ án”.
Những
vấn đề thành phần, chức năng, thẩm quyền của Hội đồng xét xử đều được quy định
cụ thể trong pháp luật TTHS. Hội đồng xét xử không phải là Hội đồng có các
thành viên cố định, chỉ những thẩm phán và hội thẩm nhân dân được phân công mới
tập hợp lại thành Hội đồng xét xử trong mỗi vụ án, các thành viên của Hội đồng
xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc (trừ những trường
hợp phải thay đổi theo quy định tại Điều 46 BLTTHS).
Để
đảm bảo công tác xét xử phúc thẩm với tính chất, mục đích đặc biệt của giai
đoạn này là quá trình kiểm tra có căn cứ và kiểm tra tính hợp pháp của bản án,
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lưc, thành phần Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm
cần phải có trình độ chuyên môn vững chắc hơn so với cấp xét xử thứ nhất thể
hiện ở số lượng thẩm phán tham gia xét xử. Theo quy định tại Điều 224 BLTTHS
thì thành phần của Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba thẩm phán (chứ không phải
là một thẩm phán và hai hội thẩm như Hội đồng xét xử sơ thẩm), chỉ trong trường
hợp cần thiết Hội đồng xét xử phúc thẩm có thêm hai hội thẩm để hợp thành một
hội đồng có năm thành viên. Nhờ số lượng và chất lượng thành viên có chiều sâu
kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm nên nhiệm vụ của cấp xét xử thứ hai được
thực hiện với hiệu quả cao.
Cần
phả xác định Tòa án cấp phúc thẩm vừa là cấp xét xử thứ hai, vừa là một cấp
giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm. Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm,
Hội đồng xét xử phúc thẩm đồng thời thực hiện cả hai chức năng: vừa xét xử lại
vụ án về nội dung, vừa xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ
thẩm. Khái niệm: “thẩm quyền của Hội đồng
xét xử phúc thẩm” gồm các yếu tố đặc trưng cơ bản như sau:
-
Chủ thể thực hiện thẩm quyền phúc
thẩm:
là những người được phân công tại Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, Tòa phúc thẩm TANDTC - đây là những Tòa án có thẩm quyền phúc thẩm
những vụ án hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 24 và khoản 2 Điều 28 Luật
Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002. Với quyền hạn tổ chức công tác xét xử, Chánh
án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chánh án Tòa phúc
thẩm TANDTC sẽ quyết định lựa chọn và phân công nhiệm vụ cho ba Thẩm phán trong
trường hợp trông thường (và thêm 2 Hội thẩm nhân dân trong trường hợp đặc biệt)
tập hợp thành Hội đồng xét xử phúc thẩm để xét xử vụ án hình sự (Điều 38
BLTTHS)
-
Cơ sở phát sinh thẩm quyền: thẩm quyền của Hội đồng xét xử
phúc thẩm sẽ được phát sinh trong nhiệm vụ giải quyết từng vụ án cụ thể được
phân công. Đó là những vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật do có kháng cáo, kháng nghị của những người có quyền
kháng cáo, kháng nghị. Chính những kháng cáo, kháng nghị hợp pháp là căn cứ để
bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật trở thành đối tượng cần
được xem xét giải quyết ở giai đoạn phúc thẩm. Do đó, cơ sở pháp lý có nguồn
gốc làm phát sinh thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm chính là kháng cáo,
kháng nghị hợp pháp đối với những bản án, quyết định sơ thẩm.
-
Đối tượng của thẩm quyền xét xử
phúc thẩm:
Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền xem xét và quyết định đối với những bản án,
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật trên cơ sở những kháng cáo, kháng
nghị hợp lệ. Bản án (quyết định) giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm sẽ có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Sau thời gian
luật định mà không có bất kỳ kháng cáo, kháng nghị nào tức là những người có
quyền kháng cáo, kháng nghị đã thừa nhận tính đúng đắn, phù hợp của bản án,
quyết định sơ thẩm. Theo đó, bản án (quyết định) sơ thẩm phát sinh hiệu lực
pháp luật và được thi hành trên thực tế, không phải là đối tuwognj cần phải xem
xét lại theo thủ tục phúc thẩm. Nếu sau đó phát hiện ra những tình tiết mới làm
thay đổi cơ bản nội dung của các bản án, quyết định đó hoặc phát hiện ra những
vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng khi giải quyết vụ án thì những bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật sẽ trở thành đối tượng xét lại theo thủ
tục tái thẩm hoặc giám đốc thẩm. Đây là điểm khác cơ bản giữa thẩm quyền phúc
thẩm với thẩm quyền giám đốc thẩm và tái thẩm.
-
Nội dung thẩm quyền xét xử phúc
thẩm:
Trên cơ sở những kháng cáo, kháng nghị hợp lệ, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ
tiến hành xét lại và xét xử lại đối với những bản án, quyết định sơ thẩm bị
kháng cáo, kháng nghị. Cụ thể, Hội đồng xét xử tiến hành xét lại tính hợp pháp
(về mặt nội dung và hình thức của bản án, quyết định đó) và tính có căn cứ (về
sự phù hợp giữa kết luận trong bản án, quyết định với những sự kiện trên thực
tế khách quan của vụ án). Nội dung thứ hai của thẩm quyền phúc thẩm là việc Hội
đồng xét xử tiến hành xét xử lại vụ án hình sự về mặt nội dung để giải quyết vụ
án một cách chính xác trên cơ sở những chứng cứ ở cấp sơ thẩm và những chứng cứ
mới.
-
Phạm vi thực hiện thẩm quyền xét xử
phúc thẩm:
Trong quá trình thực hiện chức năng xét xử, Tòa án được Nhà nước trao cho quyền
năng đưa ra các quyết định có tính chất quyền lực nhà nước để giải quyết vụ án,
đồng thời, cũng hạn chế quyền năng đó trong một giới hạn pháp luật nhất định
gọi là phạm vi thẩm quyền. Về cơ bản, kháng cáo kháng nghị hợp pháp là cơ sở pháp
lý để Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định phạm vi xét xử của mình. Hội đồng xét
xử chỉ xem xét giải quyết phần nội dung của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng
cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, thẩm quyền xem xét còn được mở rộng ra những phần
khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị, thậm chí mở rộng xem xét toàn
bộ nội dung bản án nếu Hội đồng xét xử nhận thấy đó là những “trường hợp cần thiết” và không vi phạm nguyên tắc “không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo”.
Dựa trên các dấu hiệu đặc trưng
trên có thể hiểu: “thẩm quyền của Hội
đồng xét xử phúc thẩm là tổng hợp các quyền mà pháp luật trao cho Hội đồng xét
xử phúc thẩm được xem xét và quyết định trong phạm vi xét xử phúc thẩm đối với
nội dung của vụ án hình sự mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
luật bị kháng cáo, kháng nghị; nhằm xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của
bản án, quyết định đó, đồng thời giải quyết đúng đắn vụ án hình sự”.
Trước
hết việc giữ nguyên bản án sơ thẩm là trường hợp toàn bộ bản án sơ thẩm đều
được giữ nguyên, không thay đổi. Trong trường hợp một bản án có nhiều kháng
cáo, kháng nghị, việc Tòa án không chấp nhận mốt số kháng cáo, kháng nghị và
các quyết định sửa án thì được coi là trường hợp sửa án sơ thẩm chứ không phải
là trường hợp giữ nguyên bản án sơ thẩm. Do đó, cần phải hiểu giữ nguyên bản án
sơ thẩm là giữ nguyên toàn bộ bản án sơ thẩm, chứ không thể có trường hợp giữ
nguyên một phần bản án sơ thẩm.
Hội
đồng xét xử quyết định bác kháng cáo, kháng nghị khi kháng cáo, kháng nghị
không được chấp nhận về mặt hình thức hoặc không được chấp nhận về mặt nội
dung. Cần chú ý là tại phiên tòa xét xử, sau khi xem xét các kháng cáo, kháng
nghị đủ điều kiện hình thức nhưng lại xác định nội dung của những kháng cáo,
kháng nghị này không có căn cứ thì Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định không
chấp nhận kháng cáo, kháng nghị đó. Tuy nhiên việc không chấp nhận kháng cáo,
kháng nghị không đồng nghĩa với việc Hội đồng xét xử phúc thẩm đã giữ nguyên
bản án sơ thẩm. Việc quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm cần phải dựa trên
những căn cứ nhất định.
Sửa
bản án sơ thẩm là quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm để thay đổi về nội
dung của bản án sơ thẩm như thay đổi về việc định tội danh, quyết định hình
phạt, bồi thường thiệt hại và các biện pháp tư pháp (nếu có)… theo hướng bất
lợi hoặc có lợi cho bị cáo.
Có
thể thấy đây là quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm với ý nghĩa đưa ra nhưng
phán quyết cuối cùng nhằm giải quyết trực tiếp về nội dung của một vụ án chứ
không chỉ giải quyết gián tiếp qua hủy án để điều tra lại hoặc xét xử lại. Đây
cũng là quyền năng tạo nên điểm khác biệt trong thẩm quyền của Hội đồng xét xử
cấp phúc thẩm mà hội đồng giám đốc thẩm và tái thẩm không có. Quyền hạn này
xuất phát từ tính chất của cấp xét xử phúc thẩm là không chỉ xét lại về tính
hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm mà còn xét xử lại. Trong khi hai
thủ tục này chỉ là xét lại tính có căn cứ và tính hợp pháp trong những phán
quyết của Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật.
Trong cả hai thủ tục tố tụng này, Tòa án không xét xử lại vụ án, mặc dù phát
hiện ra những sai lầm thiếu sót nhưng không thể ra sửa nội dung bản án theo bất
kì hướng nào. Qua đó cho thấy, việc sửa án chỉ được ghi nhận dưới hình thức bản
án của Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm.
Căn
cứ chung của quyết định sửa bản án sơ thẩm là khi Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng
sai những quy định của Luật nội dung (các quy định trong BLHS, BLDS), thì Hội
đồng xét xử cấp phúc thẩm sẽ tiến hành xem xét để sửa chưa những sai lầm, thiếu
sót này.
việc
sử án cần dựa vào những điều kiện cụ thể, được xem xét cẩn trọng và chặt chẽ
theo các hướng sau:
Việc
sửa án theo hướng có lợi cho bị cáo là việc thay đổi nội dung bản án sơ thẩm
theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo so với tình trạng của bị cáo
mà bản án sơ thẩm đã tuyên trước đó. Vì đây là quyết định có lợi cho bị cáo nên
thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm không phụ thuộc vào yêu cào của kháng
cáo, kháng nghị - tức là có thể sửa án theo hướng có lợi cho bị cáo khoảnể cả
trong trường hợp bản án chỉ có kháng cáo yêu cầu sử án theo hướng bất lợi cho
bị cáo. Ngoài ra, theo tinh thần của khoản 2 Điều 249 BLTTHS thù nếu có căn cứ,
Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể quyết định sửa án theo hướng có lợi cho cả
những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị. Đây chính là
một trường hợp cần thiết để Tòa án phúc thẩm thực hiện thẩm quyền với phạm vi
xem xét rộng nhất, được ghi nhận tại Điều 244 BLTTHS.
Quyết
định sửa án theo hướng có lợi cho bị cáo bao gồm các trường hợp sau:
Miễn trách nhiệm
hình sự là việc Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không
buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà người đó đã thực
hiện. Căn cứ của quyết định là khi bị cáo thuộc một trong những trường hợp được
miễn trách nhiệm hình sự được quyết định trong BLHS tại Điều 25; Điều 19; khoản
2 Điều 69; khoản 3 Điều 80; khoản 6 Điều 289; khoản 3 Điều 314.
Miễn hình phạt
là không bắt người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của
Nhà nước về tội mà người đó đã thực hiện. Người phạm tội có thể được miễn hình
phạt nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, đang
được khoan hồn đặc biệt nhưng chưa đến mức miễn trách nhiệm hình sự (Điều 54
BLHS); hoặc là người không tố giác có hành động can ngăn ngườ phạm tội hoặc hạn
chế tác hại của tội phạm theo quy định tại khoản 3 Điều 314 BLHS.
Hội đồng xét xử
phúc thẩm chỉ quyết định miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị
cáo khi xét thấy việc truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc người thực hiện hành
vi phạm tội phải chịu các biện pháp chế tài là không cần thiết, không đạt được
mục đích của hình phạt hoặc trái với các nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình
sự Việt Nam.
Trong quá trình xét xử, nếu xét
thấy việc định tội danh và quyết định hình phạt áp dụng đối với bị cáo là quá
nặng so với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thì
Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền quyết định sửa án theo hướng áp dụng điều
khoản BLHS về tội nhẹ hơn. Đây chính là thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm về phần
xác định tội danh của Hội đồng xét xử phúc thẩm. Áp dụng điều khoản nhẹ hơn có
thể là tuyên bị cáo một tội danh khác nhẹ hơn so với tội danh đã tuyên trong
bản án sơ thẩm hoặc chuyển từ khung hình phạt ban đầu sang khung hình phạt nhẹ
hơn trong cùng một tội, hoặc chuyển từ cầu thành tội phạm tăng nặng sang cấu thành
tội phạm giảm nhẹ nhờ thêm một số tình tiết giảm nhẹ, bớt đi một hoặc một sốt
tình tiết tăng nặng qui định tại Điều 46, 48 BLHS.
Nếu xét thấy mức hình phạt mà Tòa
án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo cao hơn so với tính chất và mức độ
nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể quyết định
giảm mức hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung (hoặc cả hai) hoặc bỏ bớt một
trong tổng số các hình phạt mà Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuyên trong bản án sơ
thẩm mà không thay đổi tội danh đối với bị cáo
Hệ thông hình phạt trong luật hình
sự Việt Nam bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung quy định tại Điều 28
BLHS, mỗi hình phạt được quy định chi tiết từ Điều 29 tới 40 BLHS. Mức độ nặng
nhẹ của hình phạt chưa được giải thích cụ thể trong văn bản hướng dẫn nào, tuy
nhiêm căn cứ vào khoản 1 Điều 28 BLHS, có thể thấy sự sắp xếp sáu hình phạt
chính theo thứ tự tăng dần mức độ nghiêm khắc, nhưng đối với hình phạt bổ sung thì
không thể căn cứ theo thứ tự sắp xếp được.
Như vậy, việc chuyển sang hình
hpatj khác nhẹ hơn là việc Hội đồng xét xử phúc thẩm đã quyết định chuyển từ
loại hình phạt chính mà Hội đồng xét xử sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo sang
loại hình phạt chính khác nhẹ hơn.
-
Giữ nguyên mức hình phạt tù và cho
hưởng án treo
là quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong đó vẫn giữ mức hình phạt tù
đối với bị cáo như trong bản án sơ thẩm nhưng bị cáo được miễn chấp hành hình
phạt tù có điều kiện.
-
Giảm mức bồi thường thiệt hại cho
bị cáo
là việc Hội đồng xét xử quyết định thay đổi mức bồi thường thiệt hại của bị cáo
và những người liên quan thấp hơn so với bản án sơ thẩm nếu thấy quyết định tại
bản án sơ thẩm về phần bồi thường thiệt hại cao hơn mức thiệt hại thực tế do
hành vi phạm tội gây ra. Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ giảm mức bồi thường
thiệt hại nếu có kháng cáo, kháng nghị yêu cầu; nhưng không được giảm mức bồi
thường thiệt hại cho bị cáo nếu người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự có liên
quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt tại phiên toàn có lý do chính
đáng vì quyết định này ảnh hưởng bất lợi tới họ. Quy định trên xuất phát từ
nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, phù hợp với bản chất
của quan hệ dân sự là bình đẳng và tôn trọng thỏa thuận giữa các bên tham gia
(Điều 28 BLTTHS).
Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể
sửa quyết định xử lý vật chứng nếu như quyết định xử lý vật chứng của Hội đồng
xét xử sơ thẩm không tuân thủ các quy định tại Điều 76 BLTTHS. Việc sửa quyết
định xử lý vật chứng có thể theo hai hướng có lợi hoặc bất lợi cho bị cáo.
Khoản
3 Điều 249 BLTTHS quy định: “Trường hợp
Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì Tòa án cấp
phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn; tăng
mức bồi thường thiệt hại, nếu có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo
của người bị hại, nguyên đơn dân sự”
Hội
đồng xét xử phúc thẩm chỉ có thể quyết định sửa bản án theo hướng bất lợi cho
bị cáo khi có kháng cáo của người bị hại hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát yêu
cầu tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Các trường hợp sửa án theo
hướng không có lợi cho bị cáo của Hội đồng xét xử phúc thẩm bao gồm”
-
Tăng hình phạt: là việc Hội đồng xét xử phúc thẩm
quyết định áp dụng một mức hình hpatj mới nặng hơn so với mức hình phạt mà Hội
đồng xét xử sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo. Tăng hình phạt bao gồm tăng hình
phạt chính và tăng hình phạt bổ sung (nếu có), chuyển sang loại hình phạt chính
khác nặng hơn hay áp dụng thêm loại hình phạt.
Căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm
ra quyết định này là khi thấy quyết định áp dụng hình phạt đối với bị cáo trong
bản án sơ thẩm quá nhẹ, chưa tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi phạm tội.
Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể áp
dụng điều khỏa BLHS về tội nặng hơn so với phần nội dung định tội danh trong
bản án sơ thẩm nếu xét thấy quyết định của Tòa án sơ thẩm là quá nhẹ so với mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo.
-
Tăng mức bồi thường thiệt hại chỉ được Hội đồng xét xử phúc thẩm
xem xét và quyết định trên cơ sở có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo
của người bị hại, nguyên đơn dân sự. Đây là một nguyên tắc bắt buộc do vấn đề
ảnh hưởng tới quyền lợi chính đáng về vật chất của các đối tượng có liên quan.
Khi tăng mức bồi thường thiệt hại, Hội đồng xét xử cần cawnc cứ vào mức thiệt
hại do hành vị phạm tội gây ra, mức độ này có thể ảnh hưởng tới quyết định định
tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo. Do đó, quyết định tăng mức bồi
thường thiệt hại cần được xem xét và có thể được thực hiện song song với quyết
định khác.
Ngoài ra, trong
thực tiễn xét xử, các quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm không chỉ giới
hạn trong ba loại quyết định là tăng hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS về tội
nặng hơn và tăng mức bồi thường thiệt hại. Điều này thể hiện sự bất hợp lý
trong kĩ thuật lập pháp trong các trường hợp sửa án theo hai hướng ngược nhau
là tăng nặng và giảm nhẹ cho bị cáo tại khoản 1 và khoản 3 Điều 249 BLTTHS.
Hủy bản án sơ
thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại là việc Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy toàn
bộ bản án sơ thẩm để tiến hàng lại giai đoạn tố tụng là điều tra lại hoặc xét
xử sơ thẩm lại vụ án đó. Đây là quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm khi ở giai
đoạn sơ thẩm có những sai lầm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng là Hội đồng xét
xử phúc thẩm không thể khắc phục được hoặc những sai lầm nghiêm trọng về mặt
nội dung dẫn đến không có căn cứ để sửa án mà phải yêu cầu cơ quan tố tụng tiến
hành thực hiện lại các thủ tục tố tụng trước đó nhằm đảm bảo tính hợp pháp và
tính có căn cứ của bản án sơ thẩm, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị
cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác, đảm bảo quyền kháng
cáo, kháng nghị.
“Tòa
án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm để điều tra lại khi thấy việc điều tra ở cấp sơ
thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được”. Điều
luật đã chỉ rõ hai điều kiện cần và đủ để Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết
định hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại là việc điều tra ở cấp sơ thẩm không
đầy đủ đồng thời cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.
Điều tra là một
giai đoạn tố tụng quan trong nhằm thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm,
người thực hiện hành vi phạm tội, xác định tính chất và mức độ thiệt hại do
hành vi phạm tội gây ra. Điều kiện “việc
điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ” không được hướng dẫn cụ thể, dấn đến
tình trạng sau khi điều tra lại nhưng những căn cú để giải quyết vụ án không
được bổ sung nên nội dung bản án khi xét xử sơ thẩm lại không thay đổi. Có thể
đây là trường hợp kết quả của giai đoạn điều tra không xác định đầy đủ đối
tượng chứng minh của vụ án nên Tòa án không có đủ cơ sở pháp lý để xác định sự
thật bụ án một cách khách quan, toàn diện, đúng đắn.
Có thể liệt kê một số trường hợp
được coi là “việc điều tra không đầy đủ” khi:
Ø Không
tiến hành lấy lời khai của những người là lời khai của họ quan trọng đối với
việc xác định sự thật khách quan của vụ án;
Ø Không
tiến hành trưng cầu giám định trong những trường hợp bắt bộc phải trưng cầu
giám định theo khoản 3 Điều 155 BLTTHS;
Ø Không
xác minh đầy đủ những tình tiết quan trọng về nhân thân bị cáo hay người bị
hại;
Ø Không
làm rõ được các tình tiết được chỉ ra trong quyết định yêu cầu điều tra bổ
sung…
Điều kiện đủ để
Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy án để điều tra lại là tại phiên
toàn phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã tiến hành mọi biện pháp cần thiết nhưng vẫn
không bổ sung được những chứng cứ cần thiết để xác định sự thật vụ án. Nếu Hội
đồng xét xử tự bổ sung được chứng cứ thì không cần hủy án để điều tra lại mà
tiến hành bổ sung chứng cứ mới ngay tại phiên tòa để ra quyết định phù hợp.
Tòa án cấp phúc
thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét
xử mới trong những trường hợp sau:
Trường
hợp 1: Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật
định hợp sau:
Ø Thành
phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm vi phạm quy định tại Điều 185 BLTTHS. Thông
thường, Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân,
nhưng trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trong, phức tạp thì Hội đồng
xét xử có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân; còn nếu bị cáo bị đưa
ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì Hội đồng
xét xử phải có thêm ba Hội thẩm nhân dân.
Ø Thành
phần Hội đồng xét xử không đúng luật định về tiêu chuẩn thành viên như: vi phạm
quy định tại Điều 46 BLTTHS về việc Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân thuộc
trường hợp phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi; trường hợp Thẩm phán
thuộc Hội đồng xét xử bị mất chức, cách chức hết nhiệm kỳ mà chưa được tái bổ
nhiệm…
Ø +Thành
phần Hội đồng xét xử không có một Hộ thẩm là giáo viên hoặc cái bộ Đoàn thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh khi xét xử bị cáo là người chưa thành niên (khoản 1
Điều 306 BLTTHS)
Thành phần Hội đồng xét
xử thuộc trường hợp phải thay đổi theo quy định tại Điều 46 BLTTHS.
Trường
hợp hai: Có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng
Là trường hợp vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà chủ thể vi phạm là Tòa án cấp sơ thẩm, khác
với trường hợp vi phạm nghiêm trong trong thủ tục tố tụng thuộc về cơ quan điều
tra hoặc Viện kiểm sát.
Dựa vào hướng dẫn tại chương I, mục
4.4 của Nghị quyết số 04/2004/HĐTP-TANDTC về căn cứ “vi phạm nghiêm trọng thủ
tục tố tụng” tại điều 179 theo đó có thể chỉ ra một số trường hợp như sau:
Ø Xét
xử sai thẩm quyền;
Ø Xác
định sai tư cách người tham gia tố tụng;
Ø Không
giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo và người khác theo quy định tại
Điều 182 BLTTHS;
Ø Xét
xử vụ án khi thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa quy định tại BLTTHS;
Ø Vi
phạm ngững quy định trong quá trình xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án
tại phiên tòa.
Trường hợp 3:
Người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố không có tội nhưng có căn cứ cho rằng
người đó đã phạm tội. Đây chính là điểm khác biệt sau khi BLTTHS năm 2003 có
hiệu lực mà việc sửa đổi Điều 222 BLTTHS năm 1988 và quy định Tòa án cấp phúc
thẩm có quyền hủy án sơ thẩm để xét xử lại. Sự thay đổi này là hợp lý vàn cần
thiết để đảm bảo không để lọ người phạm tội và làm oan người vô tội; đồng thời
cung tạo cơ hội cho bị cáo thực hiện đầy đủ quyền bào chữa và quyền kháng cáo
đối với bản án sơ thẩm.
Chỉ cần một
trong các trường hợp trên xảy ra thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể quyết
định hủy bản án sơ thẩm để xét xử với thành phần Hội đồng xét xử mới theo đúng
quy định của pháp luật.
Khi có một trong những căn cứ quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều 107 BLTTHS thì Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ quyết định
hủy bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án theo các căn
cứ:
-
Không có sự việc phạm tội;
-
Hành vi không cấu thành tội phạm.
Nếu
có một trong hai căn cứ trên thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy
bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không có tội và đình chủ giải quyết vụ án.
Hội đồng xét xử quyết định hủy bản
án sơ thẩm để đình chỉ vụ án, nếu có những căn cứ:
Ø Người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự:
theo quy định tại Điều 12 BLHS thì “người
từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về
những tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng”. Vì
không đủ tuổi chịu trách nhiệm nên hành vi nguy hiểm ch xã hội của họ không đủ
dấu hiệu về năng lực chủ thể, do vậy hành vi đó không cấu thành tội phạm.
Ø Người
mà hành vi vi phạm pháp luật hình sự của họ đã có bản án hoặc quyết định đình
chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật: Việc truy cứu trách nhiệm hình sự phải dựa
trên nguyên tắc một hành vi cấu thành tội phạm chỉ bị truy cứu trách nhiệm một
lần. Hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được các cơ quan tố tụng giải quyết thì
không còn là đối tượng khởi tố vụ án hình sự một lần nữa.
Ø Đã
hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: Đây là trườn hợp người phạm tội
không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa nếu đã hết thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự, BLHS quy định tính từ thời điểm người đó thực hiện hành vi phạm
tội (khoản 2 Điều 23 BLHS). Một số trường hợp với việc tái phạm, trống tránh và
đã có lệnh truy nã, các tội về xâm phạm an ninh quốc gia các tội phá hoại hòa
bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh thì Hội đồng xét xử phúc thẩm
không được ra quyết định để đình chỉ vụ án.
Ø Tội
phạm đã được đại xá: Quốc hội ra quyết định đại xá để miên TNHS hoặc miễn hình
phạt đói với người phạm tội hoặc người bị kết án nhằm thể hiện chính sách nhân
đạo của Nhà nước trong nhưng sự kiện trọng đại của đất nước. Khi có quyết định
đại xá đối với hành vi tội phạm cụ thể thì không được khởi tố vụ án hình sự để
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi đó, nếu vụ án đã
bị khởi tố thì phải đình chỉ. Nếu Tòa án sơ thẩm vẫn xét xử trong trường hợp
này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy án sơ thẩm và đình chỉ vụ
án.
Ø Người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết trừ (trường hợp cần tái thẩm đối
với người khác): xét xử lại vụ án để truy cứu TNHS và buộc một người đã chết
chịu biện pháp cưỡng chế của Nhà nước là không cần thiết do không đạt được mục
đích trừng phạt, giáo dục, cải tạo họ. Do đó, nếu trong quá trình xét xử phúc
thẩm người thực hiện hành vị nguy hiểm cho xã hooin đã chết thì Hội đồng xét xử
phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án đó.
Nếu trong quá
trình xét xử phúc thẩm bị cáo chết mà có căn cứ cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm
tuyên bị cáo phạm tội là không chính xác thì Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ quyết
định hủy bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo vô tội và đình chỉ vụ án (theo hướng
dẫn tại thông tư số 03/TTLT-TANDTC-VSNDTC ngày 25/12/2000)
Trong trường hợp vụ án có nhiều bị
cáo hoặc bị cáo phạm nhiều tội mà căn cứ để hủy, đình chỉ vụ án không liên quan
đến các bị cáo khác hoặc các tội khác thì Tòa án phúc thẩm có thể quyết định
hủy, đình chỉ vụ án đối với một phần bản án sơ thẩm.
Thành
phần của Hội đồng xét xử phúc thẩm được quy định tại Điều 244 BLTTHS, các
trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm phải có thêm hai hội thẩm nhân dân tham
gia vào Hội đồng xét xử hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể của TANDTC.
Trên
thực tế thì trừ trước đến giờ TANDTC chưa ghi nhận trường hợp nào Hội đồng xét
xử phúc thẩm của TANDTA có thêm 2 Hội thẩm nhân dân. Như vây, quy định của
BLTTHS về thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm trong trường hợp cần thiết là
quy định chưa được áp dụng trong thực tiễn, vì vậy việc các cơ quan có thẩm
quyền đưa ra văn bản hướng dẫn cụ thể về việc này là cần thiết và quan trọng.
Việc
bổ sung thêm một điều luật về việc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ
nguyên bản án sơ thẩm là hoàn toàn cần thiết nhằm tạo dựng cho Hội đồng xét xử
phúc thẩm sử dụng quyền đó với quyết định nhằm giới hạn quyền kháng cáo của bị
cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự hay quyền kháng nghị của Viện kiểm sát vì
trong một số trường hợp các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị sử dụng
quyền này không đúng mục đích, lạm dụng quyền lực. Do đó, việc quy định thiếu
căn cứ để không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị, giữ nguyên bản án sơ thẩm là
cần thiết và cần được bổ sung hoàn thiện sớm.
Quyết
định sửa bản án sơ thẩm bao gồm sửa bản án về phần định tội danh, về hình phạt
và sửa các phần khác (bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng…), trong đó quyết
định sử bản án sơ thẩm về phần định tội danh và hình phạt chiếm tỉ lệ đa số.
Khoản
1 Điều 249 quy định về nội dung của quyết định sửa án theo hướng có lợi cho bị
cáo, trường hợp giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo bên cạnh trường hợp
giữa gnuyeen mức hình phạt tù và cho
hưởng án treo cũng cần được bổ sung thêm vì đây cũng là quyết định sửa án theo
hướng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Khoản
2 được coi là một trong trường hợp cần thiết mà Hội đồng xét xử phúc thẩm có
thể xem xét những phần bản án không bị kháng cáo, kháng nghị; nếu có căn cú để
sửa án theo hướng có lợi cho bị cáo như đúng quy định tại khoản 1 thì Hội đồng
xét xử phúc thẩm có thể sửa án đối với những bị cáo không kháng cáo hoặc không
bị kháng cáo, kháng nghị.
Trường
hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền hủy án để điều tra lại nếu có căn cứ cho
thây hoạt động điều tra cở cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Đồng thời, việc ban hành các quy định giải thích thế nào là trường hợp “vi phạm
nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng” phải được bổ sung kịp thời.
-
Công tác xây dựng pháp luật: việc bổ
sung hoàn thiện về lập pháp để có những cơ sở pháp lý vững chắc, toàn diện, đầy
đủ; đáp ứng được yêu cầu tăng cướng vai trò và hiệu quả xét xử của Tòa án cấp
phúc thẩm. Bên cạnh đó, việc nhanh sửa đổi, bổ sung các chế định có liên quan
đến thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm và các văn bản khác có liên quan
đến việc giải quyết vụ án hình sự, khắc phục những quy định chồng chéo, những
quy định trái với những nguyên tắc chung.
-
Về công tác cán bộ: cần tăng cường đội ngũ
cán bộ có trình độ chuyên môn cao cần phải thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng về
nghiệp vụ chuyên môn, đạo đức của mỗi thẩm phán. Mặt khác cá nhân mỗi thẩm phán
cần tự trau dồi kiện thức, bổ sung kinh nghiệm xét xử trên thực tế nhằm nâng
cao năng lực công tác.
Phạm
vi quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm là một nội dung hết sức quan trọng
và cần thiết trong TTHS của nước ra. Với vai trò là cấp xét xử thức hai và giải
quyết vụ án một lần nữa nhằm kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ cảu bản
án hoặc quyết định sơ thẩm để ra những quyết định cần thiết, đồng thời Tòa án
cấp phúc thẩm giải quyết những nội dung mà cấp sơ thẩm giải quyết chưa đúng.
Tòa án cấp phúc thẩm xem xét và giải quyết lại vụ án ở cấp xét xử thứ hai phải
dựa vào việc bản án hay quyết định đó có bị kháng cáo, kháng nghị hợp lệ hay
không? Do vậy phạm vi thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm có ý nghĩa rất
quan trọng đối với việc ra bản án, quyết định giới hạn của bản án phúc thẩm…
Việc mở rộng phạm vi và nhằm nâng cao quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm
là một yêu cầu thực tế từ công tác xét xử phúc thẩm để cấp phúc thẩm trở thành
một cấp sửa chưa, khắc phục nhanh chóng được sự sai sót của bản án sơ thẩm việc
hiểu và vận dụng các quyền hạn của
DANH
MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật Hình sự Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2009 (BLHS);
2. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS);
6. Việc thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự/ Nguyễn Thị Thu Hà //
Tạp chí Toà án nhân dân. Toà án nhân dân tối cao, Số 8/2010;
7. Cần hoàn thiện về thủ tục phiên toà phúc thẩm vụ án hình sự/ Nguyễn Khắc Quang //
Tạp chí Kiểm sát. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Số 10/2010;
8. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hình sự. / Nguyễn Thuý Vân //
Tạp chí kiểm sát. Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Số: 08/ Năm 2007;
10.
Quyền hạn của hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự / Nguyễn Thị Thu Hà //
Nghiên cứu lập pháp. Viện nhà nước pháp luật. Số9(269)/2010;
11.
Bàn về thẩm quyền của toà án phúc thẩm trong việc sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng nặng đối với bị cáo / Hồ Đức Anh //
Tạp chí Kiểm sát . Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Số 7/2008, tr. 35 - 39
0 nhận xét:
Post a Comment